8/3

Hôm nay là ngày Quốc tế Phụ nữ đây. 8 giờ rưỡi mọi người đã có mặt đầy đủ ở dưới sảnh lớn của khách sạn… Cảm động vô cùng là ở ngay bàn đã thấy đặt một lẵng hoa tươi thắm của Rạng Đông gửi tặng mẹ, chị và tất cả các chị trong đoàn nhân ngày 8/3. Mai à, em có biết là em có một người chồng tuyệt vời đến thế nào không hả Mai? Niềm mơ ước của nhiều phụ nữ lắm đó em ạ. Chỉn chu và tinh tế như Rạng Đông không phải người đàn ông nào cũng làm được đâu em nhé. Nhiều người cho rằng việc tặng hoa là phù phiếm, tình cảm phải cụ thể nhưng đại đa số phụ nữ đều yêu hoa (có thể yêu thêm nhiều cái khác nữa nhưng hoa chắc chắn là ai cũng yêu) và khi mà con người ta đã yêu cái đẹp thì thường những điều tủn mủn ít khi còn chỗ đứng nữa? „Cái đẹp cứu rỗi thế giới“ mà, hình như Đốt (Dostoievski) đã nói vậy.Và riêng Thu luôn luôn cho rằng khi đúng lúc đúng chỗ hoa sẽ thay được lời nói rất nhiều và dễ chiếm được cảm tình của người phụ nữ một cách nhanh chóng. Tất nhiên là phải đi đôi với việc làm chứ hoa cứ tặng, việc làm thì lại rất „thổ tả“ thì có rải cả thành phố hoa cũng xin chịu. Tuy nhiên lạ lùng thay, điều ấy rất ít khi xảy ra. Nghĩa là một người đàn ông còn biết tặng hoa thì có nghĩa là còn quan tâm đến người phụ nữ của mình. Và khi anh vẫn còn quan tâm thì có lẽ anh ta cũng tự biết hạn chế những việc gây hậu quả không hay làm người phụ nữ phải nhọc tâm buồn lòng. Điều cần bàn ở đây là anh ta có cũng cùng lúc có nhiều quan tâm như vậy với những ngừơi phụ nữ khác và cũng có nhu cầu tặng hoa cho họ như vậy không mới là điều đáng nói nữa thôi. Nhưng thà như vậy còn hơn là anh ta cả đời chẳng bao giờ biết tặng hoa ai cả chứ nhỉ. Đàn bà phức tạp quá, không biết đằng nào mà lần cả. Khi họ tặng hoa có nghĩa là có quan tâm đến mình, thích thì có thích nhưng bảo là kiểu này là phù phiếm lắm, chắc gì đã thật lòng? Khi họ không tặng hoa mà là một vật cụ thể gì đó, thích thì có thích nhưng lại nghĩ ngợi hay là anh chàng đánh giá mình vật chất quá. Khi họ tặng hoa cô bạn mình hay bạn họ thì sinh nghi ngay, không có lẽ anh ta cũng quan tâm đến người phụ nữ này như với mình sao? Nhưng không tặng ai một bông hoa nào bao giờ thì lại bảo anh chàng này khô khan, chắc khó sống lắm đây, người gì mà không biết cả đến cái đẹp của một bông hoa?… Tóm lại

“… Em là em anh vẫn cứ là anh

Có thể nào vượt qua vạn lý trường thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật“

thôi. Nhưng mà cũng nhờ vậy mà cuộc đời này đáng yêu hơn chăng bởi khi mọi câu hỏi đều được giải đáp cả rồi thì còn gì là hấp dẫn nữa. Thôi, thôi, luận về hoa và phụ nữ như vậy thì biết bao giờ cho đủ.

Xung quanh khách sạn đầy hàng ăn, đủ các món nhưng có vẻ thịnh nhất ở đây là món bún cá làm từ chả cá các loại. Rất ngon. Ngon bởi cái vị độc đáo của chả cá vừa thơm lại giòn do cá quết dẻo đến một độ nào đó thì mới có thể làm chả ngon được.Vì là vùng biển nên món ăn của Nha Trang rất nhiều món đều làm với chả cá như cơm dĩa chả cá, bún cá nước, bún cá khô, bánh canh chả cá…rồi đến chả kẹp vào bánh mì cũng là bằng chả cá. Bánh mì xẻ ra, quét một lớp nước sốt của ớt sả cay cay, ngọt ngọt, đặt những miếng chả cá thái vát dày dày, cho vài cọng mùi hành thái chẻ, rồi vài ba lát dưa chuột cà rốt chua ngọt thật là vừa đẹp vừa ngon miệng. Đó chính là món khoái khẩu mỗi sáng của Tố Lan khi ở chơi Nha Trang đó. Cả dãy phố khách sạn này là chợ và hàng ăn nên việc ăn sáng vô cùng tiện lợi. Trong khi mọi người đi ăn sáng thì Thu liên hệ với Dung ở SG về việc có hoãn vé được không để Conni ở lại chơi thêm với Thu và mọi người rồi sang cùng. Nhưng rất đáng tiếc là không có vé của ngày 30/3 nên thế là thôi “mộng không thành“, đành chịu vậy. Chứ Thu cũng rất tiếc vì Thu rất muốn mời Conni và Katharina, là hai người bạn vô cùng thân thiết không phải chỉ với riêng Thu mà với cả VINAPHUNU từ những ngày đầu tiên thành lập đến giờ vẫn chung thuỷ và trọn vẹn tình nghĩa, về chơi với gia đình Thu và tuần cuối cùng đi chơi cùng mọi người những nơi mà ba tuần kia mình không đi được. Katharina thì vì kế hoạch riêng ở Berlin, không thể nào ở lại thêm được dù rất thích. Còn Conni có thể bố trí việc nhà được thì lại không có vé bay về cùng. Cả hai đều vô cùng tiếc mà đành chịu vậy. Thôi hẹn các bạn một dịp khác, dù biết rằng để tổ chức được một lần như vậy là vô cùng khó khăn. Nhưng khi người ta đã muốn thì đều có thể thực hiện được hết, Conni và Katharina nhi? „Đời còn dài, mình còn nhiều cơ hội“ như Tuyết hay nói mà, đúng không?

Đúng 8 giờ rưỡi xe chở cả hội ra cảng Cầu Đá. Sáu và Kim quay về Nha Trang nghỉ ngơi và chăm sóc lại cái xe cho yên tâm vì ngày mai sẽ là chuyến đi đêm đầu tiên của chặng đường khá xa, từ Nha Trang ra đến tận Hội An mới được nghỉ. Tàu đi tour các đảo ngày hôm nay của đoàn tên là „Tứ Hải“. Không hiểu nó được đặt bởi ông chủ tàu ý tứ sâu xa „Tứ hải giai huynh đệ“ hay nhiều khi chỉ đơn giản là chồng tên Tứ vợ tên Hải chẳng hạn. Nhiều khi con người ta cứ có xu hướng phức tạp hoá sự việc hơn bản chất vốn có của nó ấy chứ (tất nhiên điều đó không phải lúc nào cũng dở đâu). Lại nhớ đã lâu rồi, Thu có quen một chú sinh viên, hỏi tên chú bảo dạ em tên là Phạm Đơn Tùng ạ. Thu tấm tắc mãi vì một cái tên lạ và đẹp như vậy. Cây tùng là biểu tượng của người quân tử không chịu luồn cúi, khuất phục. Cụ Nguyễn Trãi khi xưa đã chẳng từng ngợi ca

„Lâm tuyền ai rặng già làm khách

Tài đống lương cao ắt cả dùng…

Cội rễ bền dời chẳng động

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày“

đó sao. Một cây tùng đơn độc giữa đời! Kiêu hãnh và cô đơn… Rồi Nguyễn Công Trứ – nhà thơ ngông vào bậc nhất của VN – lại còn

„Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đúng giữa trời mà reo…“

Vậy nên Đơn Tùng là một cái tên quá đẹp (suýt nữa ngày ấy Thu còn bụng bảo dạ nay mai có con trai mình sẽ đặt cho con mình tên này. Bởi con cái luôn là ước vọng của bố mẹ mà lại). Ít lâu sau do có một lần vô tình hỏi thì được biết ông cụ thân sinh ra chú ấy tên là Phạm Đơn Giản. Vậy nên đơn giản vậy thôi khi chọn tên Tùng cho con thay vì Hùng Dũng hay Kèo Cột gì cũng thế. (Chị xin lỗi Tùng nhé nếu vô tình em đọc được những dòng này. Chị không có ý bình phẩm gì về tên ông cụ mà chị chỉ muốn bình luận về việc ta không nên làm trầm trọng mọi việc mà chỉ nên bằng lòng với bản chất vốn có của sự việc). Đấy có mỗi chuyện cái tên tàu thôi cũng lại lan man ra thế này thì không biết đến bao giờ mới ra được đảo đi bơi đây?

Tàu này cũng chỉ có mỗi đoàn VINAPHUNU này thôi. Chín, nghệ danh do chính Chín tự giới thiệu, sẽ là người hướng dẫn đoàn hôm nay. Chín là một thanh niên rất vui vẻ, tính tình cởi mở, có lẽ là người Bắc vào ở trong Nam đã lâu. Chín có nhiều tài lắm. Nói được đủ giọng ba miền, đang „Còn duyên, duyên kẻ đón, đón người đưa..“ thì lại thấy “đổ“ Võ Đông Sơ với Bạch Thu Hà dân chúng vỗ tay ầm ầm, rồi lại thấy „I have dream, I have dream“, hát tiếng Anh như gió. Hỏi ra thì biết Chín tốt nghiệp ĐH khoa tiếng Anh, đi làm hướng dẫn viên du lịch đã vài ba năm từ khi tốt nghiệp ra trường đến giờ. Nhìn lại thực trạng của sinh viên tốt nghiệp ra trường bây giờ thấy có được chỗ làm là may mắn lắm rồi. Hầu hết hướng dẫn viên du lịch chủ yếu là tốt nghiệp ĐH ngoại ngữ hoặc Du lịch. Nghề này chỉ thích hợp chủ yếu với nam thôi, chứ nữ thì chỉ được giỏi lắm vài ba năm rồi cũng phải lấy chồng đẻ con, còn đi đâu được mà cũng còn ai người ta muốn nhận nữa. Nghề này vất vả lắm chứ có nhàn nhã gì đâu. Có khi về chưa kịp nghỉ ngơi thì đã lại tiếp quản đợt khách mới. Đi quanh năm suốt tháng, tiếp xúc với đủ loại người, có phải ai cũng biết thương hay tôn trọng hướng dẫn viên đâu? Và làm sao hài lòng hết mọi người được? Ăn phải ăn sau, mệt mấy đang ăn có người gọi cũng phải khách trước tiên. Rồi còn bao nhiêu thứ việc phát sinh ra nữa chứ. Khi trẻ thấy được đi đây đó khắp nơi nghe thấy tự hào hãnh diện chứ bây giờ ta cứ thử tưởng tượng thích mấy thì thích mà ngày nào hay tuần nào cũng trèo lên tụt xuống động Thiên Cung vịnh Hạ Long hay núi Yên Tử hay ra ra vào vào thánh địa Mỹ Sơn… thì tình yêu ấy cũng bị bào mòn đi chứ? Nên đặc biệt Thu luôn dành cảm tình rất nồng hậu cho những hướng dẫn viên du lịch còn trẻ khi mới vào nghề vì hiểu thấu những khó khăn mà họ phải đương đầu, nhất là lương hầu như là ít, cùng lắm chi đủ lúc còn độc thân chứ khi đã lập gia đình thì cũng „Vắt mũi đút miệng“ thôi. Bởi Thu luôn nhớ lại thuở ban đầu khi mới vào đời của mình, cũng lương ba cọc ba đồng với một vạn nỗi lo cơm áo mà trong tim thì tràn đầy nhiệt huyết (đôi khi còn tưởng tượng bẩy được cả trái đất lên ấy chứ).Tàu Tứ Hải là một tàu vừa vừa, không to lắm. Tuy vậy cũng phải chở ít nhất là ba chục người nhưng thường cô Tường chỉ muốn cho mỗi đoàn mình thôi cho tiện, để tha hồ tự tung tự tác và không ai bị „điếc tai“ vì mình cả vì toàn là „lệnh vỡ“ hết. Chín chúc tất cả các chị các cô tất cả tốt đẹp nhân ngày 8/3 quốc tế PN và hát tặng Tố Vân nhân dịp sinh nhật. Cả hội cùng hò hát „Happy Birthday to You“ rất vui vẻ chúc mừng Tố Vân. Nga và Chín làm một bức ảnh như trong Titanic trông rất tình tứ chỉ có điều hình như „phi công“ hơi trẻ Nga ạ.

Cập bến đầu tiên là Hòn Mun. Đây là một trong những hòn đảo rất đẹp của đảo Nha Trang. Gọi là hòn Mun bởi ở phía Đông Nam của đảo có những vách đá dựng đứng hiểm trở, đá ở đây đen như gỗ mun rất hiếm khi thấy ở nơi khác. Hàng năm chim yến vẫn về làm tổ ở những hang động đen ở hòn Mun. Do ảnh hưởng của dòng hải lưu nóng từ xích đạo đưa lên nên đáy biển ở vùng hòn Mun rất phù hợp cho sự phát triển của san hô và các sinh vật biển nhiệt đới. Đây là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam. Và nơi nào có san hô thì nước biển vô cùng trong bởi những vi sinh vật ở đáy biển chính là nguồn thức ăn tuyệt vời cho san hô. Nước biển xanh thẫm và trong leo lẻo, thấy tận đáy. Thấy những đàn cá đủ màu sặc sỡ bơi lội tung tăng, thấy san hô mềm vươn dài những cánh tay mềm mại dập dờn theo làn sóng biển, thấy từng vỉa san hô cứng muôn hình muôn màu cái thì như cái dù màu xanh nhạt to tướng, cái thì lại như một toà lâu đài màu hồng phớt trong truyện cổ tích… điều đặc biệt ở đây là san hô của vùng đảo hòn Mun này là những rạn lớn và ở ngay sát bờ. Sung sướng quá tất cả ào xuống ngâm mình trong làn nước biển xanh trong, ầm ĩ cười đùa, Đông cõng Thu rồi còn rồng rắn lên mây dưới nước nữa chứ… Vang cả một góc đảo. Elke một mình bơi ra xa bờ để ngắm san hô. Conni đeo ngay kính lặn vào, lặn một lúc mới thấy ngoi lên khoe toáng lên là con cá Vẹt đẹp lắm, san hô „trăm hồng ngàn tía“ đẹp vô cùng. Trong khi đó thì Katharina thơ thẩn trên đảo để nghiên cứu các loại thực vật cây cỏ có trên đảo. Rồi cả hội lại leo lên bãi cát nằm phơi nắng. Bãi cát của hòn Mun rất đẹp, cát mịn và trắng. Phải nhờ thợ ảnh chụp lại những giây phút thần tiên này cho nó chuẩn chứ hệ thống máy ảnh của các vị đã có vấn đề vì do cao hứng quá nên thậm chí còn nhúng cả xuống biển có chết người không cơ chứ. Chưa đã đâu nhưng mà rồi chương trình đi tour các đảo còn nhiều nên cả hội phải „nhổ rễ“ lên tàu đi tiếp. Nhảy lên tàu đáy kính để xem san hô thích vô cùng, cả thế giới của Neptun hay Poseidon như hiện ra trước mắt. Những hướng dẫn viên vừa cho tàu chạy vừa chỉ cho chúng tôi cặn kẽ về đời sống của san hô, thú vị vô cùng. Để tìm hiểu được hơn về cuộc sống dưới đáy đại dương, đầu tiên là Hưởng rồi đến Đông, Đức, Hiện, Nga, Tố Vân và Ngọc dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia lặn có bằng cấp rất đàng hoàng đã có khoảng 20 phút ngắm nghía thuỷ cung. Chỉ riêng Tố Vân không hiểu sao không thể nào dìm được mông xuống, nghĩa là „Schwänzchen auf die Höhe“ như vịt suốt thế là thấy thầy giáo lắc đầu „bó tay chấm cơm“ luôn, xin mời lên. Còn một lúc sau thì thấy Nga, Đức, Hiện, Đông và Ngọc ngoi lên trong tiếng vỗ tay rầm trời của đông đảo bạn bè cổ vũ. À, tất cả đều áo lặn trông cứ như một bầy chim cánh cụt cả nhưng không hiểu sao không có chân vịt nên không thấy lạch bạch lắm. Nhìn đội ngũ người nhái ấy trông „hoành tráng“ ra phết. Bức ảnh này chắc chắn sẽ có mặt trong Lễ Kỷ niệm 20 năm của VINAPHUNU để thêm một minh chứng cho sự mạnh mẽ của chúng ta không phải chỉ ở trên bờ đâu mà còn dưới nước nữa.

Tàu đỗ trước hòn Một thì mâm bát bắt đầu được dọn ra. Những cái ghế trên tàu được thiết kế rất cơ động, bình thường là những ghế băng để ngồi, đến giờ ăn thì được ngả ra làm bàn, sau đó thậm chí làm sàn nhảy luôn nếu cần. Xong việc, ghế lại được dựng lên ngồi.Tóm lại là rất sáng tạo. Hồi mới đầu đi những tour này ở Nha Trang, Thu và Tyty đều vô cùng thán phục khi thấy trong một diện tích bé vậy mà lại được thiết kế dù rất thô sơ thôi nhưng được khai thác tận dụng triệt để. Cả bàn ăn được các nhân viên trên thuyền và chính Chín bưng ra trang trí rất đẹp và ngon mắt. Có dễ đến 5-6 món, rất tươi ngon như mực, tôm nướng, thịt bò xào, canh chua…tráng miệng toàn hoa quả tươi như thanh long, xoài…Đang ăn thì nhạc techno ở tàu bên ầm ầm. Thế là bỏ cả ăn. Hát hò nhảy nhót tưng bừng cả một góc trời. À, hai tàu nghỉ trước hòn Một này để giao lưu với nhau. Trên một phao bơi giữa biển, một nam vũ công đang uốn éo mời rượu mọi người bơi xung quanh. Không khí sôi động không hiểu do nhạc, do rượu, do sự giao lưu âm dương giữa hai tàu, do trời xanh mây trắng hay do cảnh quan hữu tình mà cả vịnh cứ như vỡ tung ra. Đặc biệt là với màn trình diễn bốc lửa của Đông và Hiên đã kéo toàn bộ sự thu hút của cả hai tàu vào mình. Cô Tường chốc chốc lại thấy lắc đầu bảo cho nó (tức là Đông) đi nước ngoài sớm quá. Không hiểu ý cô thế nào?! Hiên đoạn sau làm Chín hình như không chịu nổi phải „ôm phản lao xuống biển“. Sức chịu đựng con người ta có hạn thôi chứ Hiên! Em nó còn trẻ quá mà! Tha cho nó nhé! Lêchen cũng tham gia nhiệt tình với các em, đại điện cho 5x, trẻ trung tươi mát và yêu đời vô cùng. Chốc chốc lại thấy một nhân vật nhảy ùm từ trên nóc tàu xuống làn nước biển xanh thẫm làm nước bắn toé tung lên các thuyền. Người ngợm ngồi trên thuyền mà ướt hết cả, sợ nhất là vô phúc mà nước biển bắn vào máy móc thì chết dở ấy chứ. Nghe Chín giới thiệu là anh chàng vũ công này từ Thái sang, đặc biệt biểu diễn cho các bà các cô nhân ngày Quốc tế PN. Nhưng đến lúc lên bờ vì phải nhảy qua tàu bên mới lên cảng được thì thấy Hiên bảo thằng này Thái gì, em đi qua thấy đang ngồi gặm xương cá, tiếng Việt chánh cống giọng Nam. Chẳng hiểu hư thực thế nào! Nhưng mà quan trọng gì, miễn là ta vui được hết mình trong những giây phút đó, đúng không? Và Thu luôn luôn thán phục Hiên là dù trong những phút giây tưởng đắm say dễ sa ngã nhất Hiên vẫn rất tỉnh táo, rạch ròi, nhận hay phát hiện „chân vấn đề“ rất nhanh chóng. Hiên là con ruồi bay qua Hiên cũng biết ngay là anh hay cô ấy Hiên nhỉ. Nga luôn là tiên phong trong mọi vấn đề chơi. Là người đầu tiên của đoàn lơ lửng trên bầu trời xanh ngắt với một cái dù to tướng mà canô chạy phành phành đằng trước để kéo, dù chịu nhiều vết thương xây xát ở cùi chỏ và đầu gối do việc người hướng dẫn không chu đáo, Nga đã vinh quang trở về trên chiếc môtô biển đầy oai phong. Còn Đông, đối với người thì không thấy vậy, nhưng trong vấn đề chơi thì Đông có vẻ cả thèm chóng chán. Đang tưng bừng nhảy nhót vậy, nhoáng cái đã thấy ôm cái phao bánh xe to tướng dưới biển đàn đúm chỗ uống rượu vang, rồi lại thấy tót ra từ lúc nào chỗ nhảy dù trong lúc Nga phóng về. Đông phi thế nào mà chỉ là là mặt nước, mãi dù mới bốc được lên trên cao. Dân chúng trên thuyền gào la rát cả cổ để cổ động. Rồi thế là Ngọc, Huyền Vân cũng xăm xăm ra thử thách tài năng của mình. Chia tay với tàu bạn và hòn Một vì lộ trình chúng tôi còn ra hòn Sỏi và hồ cá Trí Nguyên nữa.

Hòn Sỏi được gọi như vậy bởi trên đảo toàn sỏi là sỏi. Không hiểu do thiên nhiên như vậy hay là do muốn cho đặc biệt mà ngưòi ta rải những hòn sỏi toàn to cỡ như quả trứng gà. Đi chân không khá đau chân nên người ta phải làm những con đường hẹp thôi nhưng lát đá để đi cho dễ. Đó chỉ là những tấm xi măng ráp vào nhau nhưng trông cũng hay hay ngộ nghĩnh vì tấm thì khắc lên con cua, tấm thì cá, tấm thì con sao biển…dù hình khắc cũng ẩu tả, nguệch ngoạc. Sóng ở đây hay là lúc này có vẻ lớn nên cả hội chỉ nằm phơi nắng mà thôi. Rồi sau đó là tàu rẽ sóng đến thăm hòn Nhiễu hay còn gọi là đảo Bồng Nguyên, nơi có thuỷ cung Trí Nguyên với nhiều sinh vật biển kỳ lạ. Thuỷ cung này làm theo hình dạng một con tàu như của cướp biển ngày xưa giống trong phim „ Đảo giấu vàng“. Có lẽ vì đã từng tham quan những Aquarium ở Đức và nhiều nơi trên thế giới nổi tiếng như ở Valencia, Barcelona… nên Thu thấy gọi là thuỷ cung nhưng mà có vẻ nghèo nàn. Xây cất thì bằng xi măng nhuôm nhoem, cẩu thả. Các sinh vật biển thì không có nhiều và hình như cũng không thật đặc sắc. Nhưng cũng có thể ý kiến này của Thu là chủ quan vì cũng không có chuyên môn gì. Việc này xin nhường các nhà chuyên môn phát biểu. Cái đáng nói ở đây là dù bé thôi, trong một quy mô nhỏ vì „Mèo nhỏ bắt chuột nhỏ“ không ai chê trách cả nhưng phải nghiêm túc từ ý tưởng, xây cất, thực hiện… Tóm lại là phải nghiêm túc từ những việc nhỏ nhất, việc gì cũng vậy. Trong mọi việc.

Lên đến cảng là đã 5 giờ chiều. Một ngày ở Nha Trang trôi qua với bao luyến tiếc bởi những giây phút bồng lai ấy mấy khi có lại trong đời. Sáu và Kim đón cả hội về khách sạn, nhưng một số người thích đi dạo chợ Đầm để mua ít đồ kỷ niệm nên phới đi luôn. Không hiểu Vânchèo đi đứng thế nào mà lúc xuống bậc thang ở chợ bị một cái tăm đâm vào chân, máu chảy mãi không dừng. Sợ quá, thế là phải cùng mấy chị em ra hiệu thuốc mua bông băng dán mà cũng phải một lúc sau máu mới cầm được. Khổ thân quá. Chỉ sợ „công chúa“ nhiễm trùng uốn ván thì chết dở. Nhưng may không phải mỗi tâm tính lành mà da thịt cũng lành nên chắc mấy hôm thôi là Vânchèo lại có thể nhảy chân sáo được rồi.

Nghỉ ngơi chút ít, tắm rửa xong là cả đoàn lại tập trung nhau ở dưới sảnh vì sinh nhật của mình nên Tố Vân tối nay muốn đãi mọi người ăn tối. Còn cả đoàn thì lại muốn dành tặng Tố Vân một sự ngạc nhiên đầy thú vị. Đông chạy ra phố để lấy tấm tranh cả hội đặt tặng Tố Vân mà giờ này mãi chưa thấy về. Nên mọi người cứ giả vờ ấm ớ mãi, viện đủ thứ lý do, chưa đi được. Một lúc sau thấy Đông hộc tốc đi xe ôm về, tranh vẫn còn ướt mực vẽ. Ngay tại sảnh lớn tất cả cùng đồng thanh hát tặng và chính thức chúc mừng sinh nhật Tố Vân. Kỷ niệm cho lần sinh nhật đặc biệt này, giữa vòng tay bè bạn ấm áp ân tình, cả đoàn tặng Tố Vân một bức tranh phong cảnh thuyền để nhớ Nha Trang, thành phố biển hiền hoà và lộng gió này trong chuyến hành trình lịch sử của chúng ta. Sau đó cả hội đi tìm quán để thưởng thức đặc sản của Nha Trang. Nem nướng Ninh Hoà thì hôm qua đã xơi rồi. Thu định dẫn mọi người ra chợ quê là một quán rất lớn gần bờ biển, ở đó có đủ các món trên trời dưới đất, ai muốn chọn gì thì chọn, thích lắm…Thế mà rồi „Vật đổi sao dời“, mới có hai năm mà mà quán đó đã không còn đó nữa. Bùi ngùi tất cả lại kéo đi tìm một quán bánh canh khác để ăn chứ không cả hội từ sau bữa ăn trưa trên thuyền rồi lại còn bơi lội, nhảy nhót, dù diếc.. đã có tí gì vào bụng nữa đâu nên đói ngấu rồi. Thế là Thu có ý kiến mọi người leo xích lô nhờ họ chở đến đó. Phương pháp đó là tuyệt vời nhưng lại điếc tai vì hai ông lái cãi nhau, thậm chí suýt nữa đánh nhau vì tranh cãi giá chuyến xe đó là cho hai người hay một người, mặc dù trước lúc leo lên đã phải nói đi nói lại là giá thoả thuận này là cho một cuộc xe, có hai người ngồi trên. Một ông có vẻ trung thực hơn hoặc giả „tầm chiến lược“ của ông này hơn hẳn ông kia nên có nói là đúng giá ban nãy đồng ý là cho hai người. Ông kia nổi xung lên chửi ông này là sao mày ngu quá dzậy? Tay đã vung lên ngang đầu, sợ quá cả hội té luôn. Thế là thôi, xin mời hai ông giải tán dù trong lòng cũng thấy hơi bất nhẫn vì thương ông lái kia nhưng lúc ấy không thể làm khác được. Thế là, nhóm đi bộ, nhóm leo taxi về cho sớm chợ. Về đến khách sạn, cả hội còn ngồi mãi ở tiệm làm tóc bên cạnh. Sau đó, mấy em lại gợi ý thế nào đó mà Tố Vân lại bùi tai, đưa tiền nhờ mấy cô ở tiệm mua giùm vài chục trứng lộn rồi luộc hộ, chờ các chị sau khi uốn sấy gội hấp tóc tai, làm móng tay móng chân xong là sáp dzo.

Vì ngày mai còn cả một chặng đường dài và ngủ đêm trên xe bus nên Đức và Thu làm việc „chỉ“ đến 12 rưỡi thôi. Ngoài cô Tường ra thì Đức với Thu cũng là „tài sản“ của đoàn chứ bộ nên sức khoẻ phải rất được đảm bảo.

9/3

Khi tỉnh được giấc thì bình minh đã tự bao giờ rồi. Chợ búa trước cửa đã ồn ào nhộn nhịp kẻ mua người bán lắm rồi. Dọc hai bên phố là đủ rau tươi rau xanh, hoa quả ngon lành, thịt cá tôm tươi còn nhảy tanh tách… nhìn ngon mắt vô cùng. Trí nhớ của Thu lại lạc về những phiên chợ nông thôn hồi sơ tán. Ngày ấy trẻ con HN lần đầu tiên được về nông thôn nên cái gì cũng thấy lạ, cái gì cũng thấy thú vị cả. Chờ mãi mới đến ngày phiên chợ để được cùng bố mẹ đi chơi chợ, được thấy bao cảnh mà ở HN không có, nhà kia bán một ổ chó con con nào cũng mũm mĩm thơm sực mùi hoi hoi của sữa mẹ, rồi gà, vịt, lợn…đầu chợ thì có hàng ông thợ rèn bễ kéo thì thụt phì phò, hai bố con ông thợ thì người nhễ nhại mồ hôi.. lại còn được ăn bánh giò, bánh đa. Rồi những phiên chợ đêm thời chiến ở trong rừng bạch đàn. Ngày ấy phải đi chợ từ lúc nửa đêm. Vì là chợ vùng trung du nên sản vật chủ yếu là lạc, đỗ, khoai, sắn… và được đong bằng đấu, rồi thì một nồi bằng 16 đấu hay là bằng 4 xó, có nghĩa là 1 xó bằng 4 đấu…thỉnh thoảng mới có mớ cá, miếng thịt, quà bánh cũng không có gì nhiều mà không hiểu sao trẻ con vẫn cứ háo hức đi. Cái cảm giác của bóng đêm, ngồi sau xe đạp, áp mặt vào lưng bố mẹ đang gò lưng trên đê lộng gió nó mới an toàn và ấm áp làm sao…Văn hoá chợ nó đã ăn sâu vào tâm khảm người Việt ta nên dù rằng siêu thị mở ra ở nhiều nơi nhưng nếu không phải vì vấn đề lo ngại vệ sinh thì tâm lý người mình vẫn thích đi chợ hơn. Đi chợ ở đó người ta được giao lưu, được cò kè, được nhìn ngó xem xét nâng lên hạ xuống hàng họ… Chính bởi vậy có nhiều người sau khi về hưu một ngày phải ra chợ đến cả dăm lần là vì thế. Rồi ở bên Đức này chủ yếu là siêu thị ở những trung tâm thương mại nhưng dân Việt ta vẫn thích rủ nhau đi chợ Thổ. Cũng chẳng phải vì giá cả ở đó rẻ gì hơn mà chủ yếu là vì không khí ở đó gợi nhớ đến chợ của ta ở quê nhà. Những buổi chiều vừa tan ở cơ quan ra lại đạp xe tạt qua chợ vỉa hè mua quả trứng, mớ rau muống với vài quả sấu dầm nước canh chua, dăm thì mười hoạ được con cá xâu lạt qua mang treo toòng teng ở ghi đông… thì coi như là mặt mũi hý hửng lắm vì nghĩ đến bữa cơm ngon lành mà bố chờ rồi chồng con mong ngóng là hạnh phúc biết bao nhiêu. Thời đó qua rồi đã lâu mà sao kỷ niệm cứ trói chặt ta lại. Nhiều khi lại ước được trở lại cái thuở mọi thứ chỉ thiếu thốn thôi nhưng mà sao tất cả nó đơn giản vậy. Nhưng những sự thiếu thốn đó nó đã bào mòn mọi tình cảm con người bởi sức chịu đựng con người dù là vật chất hay tinh thần đều có giới hạn cả. Và tâm hồn tình cảm con người thường là vô cùng phức tạp.

Không hiểu đi mua bán đồ đạc thế nào mà Hưởng bị một anh cún ta đợp cho một phát, may mà anh ta bị xích nên không được thoả chí chứ không thì nguy quá. Không bị chảy máu chứ nếu có gì mà mình lại đi ngay thì ai ở đấy mà theo dõi xem anh chàng này có bị lên cơn dại hay không được? Cho nên cách duy nhất để biết có phải anh này dại không là để chờ xem Hưởng có lên cơn không mà thôi để còn gọi điện vào báo cho chủ chó biết mà đề phòng. Ý kiến của mọi người như vậy đó!!! Đã thế Vânchèo còn trách Hưởng là „Ăn ở thế nào mà đến chó nó cũng ghét, nó cắn cho“. Hưởng uất quá mà không làm gì được. Thì mới bảo là không phải tự nhiên mà hôm qua Vânchèo bị tăm đâm vào chân đâu, chẳng qua là một hình thức của hầm chông ở Củ Chi thôi (vì nghe đâu sau cú xốc nách của anh hướng dẫn viên ở điạ đạo Củ Chi là Vânchèo „tơi bời khói lửa“, „ngất ngây con gà tây“ mà lại).

Vì 10 giờ là xuất phát nên sau khi ăn sáng là Thu rủ mọi người ra dạo bờ biển Nha Trang để chụp ảnh trước khi chia tay. Bởi đã đến Nha Trang mà không chụp ảnh ngoài bãi biển thì là sự thiếu sót ghê gớm. Nha Trang đẹp chính là bởi những hàng dừa xanh vươn cao trên nền trời xanh ngắt, bãi cát trắng mịn trải dài bên làn nước biển xanh thẳm. Đã từng được biết khá nhiều bãi biển đẹp của nhiều nơi trên thế giới và Thu chỉ có thể khẳng định rằng bãi biển Nha Trang có thể sánh ngang hàng với chúng. Cả hội đi taxi ra ngoài biển cho nhanh. Thu kêu đỗ ở bãi của quán Lousiana, cạnh Sailing Club là nơi bãi rất sạch, nơi mà mỗi lần Thu ra Nha Trang đều ghé để nghỉ. Đi chân trần trên cát ẩm, cát trắng, dừa xanh, trời xanh, biển xanh… hít thở làn gió trong lành đầy ắp hai lá phổi, cảm nhận được vị mặn của gió biển… Đó là một trong những giây phút đẹp nhất của cả chuyến đi. Ai cũng công nhận như vậy.

Quay trở lại khách sạn là check out phòng xong, chạy vội ra quán đầu đường Thu, Lê mua vội đồ ăn mang theo là xe khởi hành sau khi chào hỏi chia tay với hai chị em cô chủ khách sạn. Cô ấy cũng nói rằng vì Rạng Đông là chỗ quen biết nên giá cả là cô có lưu ý cho đoàn mình nhiều. Cậu em cô dễ thương và đẹp trai như một tài tử Hồng Kông (ước gì trẻ lại 30 tuổi nhỉ, mình sẽ kiên quyết „Không cho chúng nó thoát“ đâu nhé ). Xe ghé nhà cô Thu để chào cô. Chỉ mình cô ở nhà vì các em các cháu đi làm việc hoặc đi học xa cả. Cô mừng quá, ôm chặt Thu cứ khóc mãi vì biết Thu không thể ở lại được với cô. Tất nhiên sau khi biết Thu đi cả đoàn và là đi công tác không thể về ở với cô như mọi lần thì cô thông cảm và còn lên tận trên xe để bắt tay chào hỏi từng người lưu luyến, rồi cứ nằng nặc bắt phải mang một két bia lên để cho mọi người đi đường uống. Khi Thu còn bé, cô là bác sỹ thú y ở Hải Dương nên nghỉ hè hay nghỉ lễ Thu rất hay được bố mẹ cho về chơi thăm cô và các em, thích lắm. Vì về với cô là Thu được cô rất chiều, được ở chơi với các em nằm ngoài hè gió mát nhìn ngắm trăng sao, kể cho các em chuyện cổ tích, được biết rất nhiều chuyện của nông thôn, rất thú vị, như chuyện những con lợn của cô mỗi con có một kiểu hoa ở tai khác nhau do cô cắt để đánh dấu, tính tình mỗi đứa rất khác nhau, hiền lành, tham lam, đỏng đảnh hay dỗi…(nhưng tựu trung lại dĩ nhiên vẫn là Trư Bát Giới) và rất đáng yêu… Thu ngờ rằng tình yêu của Thu đối với thú vật chính là do những ngày này xây dựng nên. Nhớ một năm nào đó phải sau bao nhiêu năm Thu mới ra lại Nha Trang thăm cô được, nghĩa là phải cả chục năm vì khi thì Thu ở nước ngoài, khi thì các em đi học, đứa ở Huế, đứa SG, khi Thu về nước thì cô chú đã chuyển vào Quảng Ngãi…thế mà tối hôm đó, chỉ cần Thu gọi tên cô chú trước cánh cổng đóng chặt mà các em đã gào lên má ơi chị Hoài Thu rồi ùa ra đón chị. Tình cảm với cô chú và các em rất sâu nặng. Đó là tình cảm của những ngày sống trên đất Bắc chỉ có mấy anh em ruột thịt thôi mà cái ngày hồi hương khi đó còn xa ngái và vô vọng. Bởi phải sau cả gần ba chục năm thì biết bao nhiêu người mà trong đó có bố Thu mới „Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê“ được.

Trước khi Bắc tiến là đoàn sẽ dành gần cả ngày để tham quan những danh lam thắng cảnh của Nha Trang. Nha Trang là thủ phủ của tỉnh Khánh Hoà. Trước khi trở thành phần đất của Việt thì Nha Trang tên là Ya Trang hay Ea Trang (theo tiếng Chăm là con sông lau, đó là con sông Cái ngày nay và chảy ra cửa biển có nhiều lau ), thuộc đất của Chiêm Thành. Các di tích Chăm cổ vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi ở Nha Trang như rất nhiều tháp Chàm mà điển hình là tháp Bà Po Nagar …

Nhà thờ Núi của Nha Trang tên chính thức là nhà thờ Chánh Toà Vua toạ lạc trên một ngọn núi nhỏ, tháp chuông nhà thờ vươn trên nền trời xanh ngắt, quanh năm lộng gió đại dương. Toàn bộ kiến trúc hoành tráng của ngôi thánh đường này khiến ta liên tưởng đến thành quách lâu đài La Mã. Dọc hai bên tường dốc đi lên là những tấm biển ghi tên tuổi của những người đã mất, chắc đó là linh hồn của những con chiên muốn về bên nước Chúa, được gần gũi bên chân Người, hẳn như bên Phật giáo thì hũ tro cốt đặt trong chùa cho sớm chiều được tụng kinh kệ cho mát mẻ vậy. Vậy mới hay rằng tôn giáo nào rồi thì cũng dẫn tới mục đích cuối cùng hay còn gọi là cứu cánh đó chính là sự cưú rỗi linh hồn ta mà thôi. Do san phẳng ngọn núi để xây dựng nên từ trên sân nhà thờ cao (so với mặt đường là 8m) có thể nhìn thấy toàn cảnh xung quanh, rất thoáng mát. Những vòm cuốn và cửa sổ đều trang trí bằng kính màu hoa văn rất đẹp và lạ đối với mỹ thuật Đông phương. Khắp nơi đó đây nở đầy những bông trúc đào hồng và trắng tô điểm thêm sự lộng lẫy cho ngôi thánh đường đẹp uy nghiêm, hoành tráng này. Mọi người tản ra mau chóng ngắm nghía tượng các thánh và chụp ảnh bên các khóm hoa nở rực rỡ còn Bettina và Heike vào tận bên trong để chiêm ngưỡng và chụp ảnh.

Cũng vì là chỗ đỗ khó khăn nên chỉ một lúc là tất cả phải lên xe đi tham quan thắng cảnh thứ hai của Nha Trang là chùa Phật Trắng hay còn gọi là Long Sơn tự. Xây dựng hơn 100 năm trước ở trên núi Trại Thuỷ, chùa có tên nguyên thuỷ là Đằng Long tự. Trải qua nhiều lần trùng tu, Long Sơn tự là ngôi chùa nổi tiếng nhất của Khánh Hoà và có tượng Phật ngoài trời lớn nhất VN. Đường lên chùa cũng vòng vèo và khá cao, gần hai trăm bậc. Tượng Kim Thân Phật Tổ trong tư thế đang ngồi thuyết pháp ở trên đỉnh núi Trại Thuỷ, cao 21 m, riêng đài sen đã cao 7 m. Được hoàn thành vào năm 1963. Xung quanh đài sen là chân dung 7 vị hoà thượng, đại đức đã tự thiêu để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo vào năm 1963. Nhiều người nói rằng từ trên thuyền ngoài biển cách xa bờ họ đã nhìn thấy tượng Phật rồi và nó như là một kim chỉ nam để họ biết đấy là Nha Trang. Cứ một đoạn trèo mệt lại có khóm tre che bóng hay có cả đình hóng mát để cho khách bộ hành nghỉ chân. Trên những bậc thang chúng tôi đã gặp cả những cụ già ăn xin rất đau lòng. Hoàn cảnh các cụ thế nào? Con cái các cụ ra sao? Trước kia các cụ sinh sống ở đâu? Vì sao đến nông nỗi này? Hàng ngày các cụ sống thế nào?…Biết rằng cuộc đời này đầy rẫy những khổ đau, đầy rẫy những ngang trái, bất công nhưng khi anh phải đối mặt trực tiếp với những điều ấy nó đau đớn lắm, hơn anh tưởng tượng về nó nhiều. Bà cụ 80 tuổi, người còng gập xuống, mắt đã loà gần như không thấy gì khi Thu xin phép cụ được chụp ảnh cụ đã nói một câu mà Thu phải vội quay đi ngay không thì khóc nức lên trước mặt cụ mất „Tôi vừa già vừa nghèo vừa xấu cô chụp tôi làm gì?“. Đúng là không thể giải thích được, mà thậm chí có thể bị hiểu sai là không đồng cảm, đem triển lãm cả những điều thương tâm của người khác. Cụ ơi, cụ có biết, từ khi còn bé cháu đã luôn nghe mẹ cháu dạy là „Ăn mày là ai, ăn mày là ta, đói cơm rách áo sinh ra ăn mày“ cụ ạ. Và cụ ơi cụ có biết rằng cháu muốn lưu giữ tấm hình của cụ để mọi người khi nhìn thấy họ biết rằng họ đã hạnh phúc và may mắn như thế nào, để họ có thể cảm thông nhiều hơn với người khác, để họ hiểu rằng không ai có thể „Nắm tay từ sáng đến tối“, và cuộc đời là vô thường, sự bất hạnh không chừa một ai ra cả đâu. Hôm nay có thể là anh nhưng ngày mai lại là tôi đấy. Và vì vậy mình nên sống tốt với nhau và cho nhau. Cuộc đời ngắn hơn ta tưởng nhiều. Phật không ở đâu xa mà Phật ở ngay chính lòng ta vậy.

Nói đến Khánh Hoà người ta không thể không nhắc đến trầm hương bởi Khánh Hoà là xứ nổi tiếng về trầm hương. Trầm hương và kỳ nam hội tụ trong những cánh rừng đại ngàn ở Khánh Hoà với mật độ dày luôn khiến cho dân „đi điệu“ (tiếng gọi những người săn tìm trầm kỳ) từ khắp nơi đổ về đây để tìm vận may. Bởi trầm hương cũng như kỳ nam là những dược liệu cũng như hương liệu rất quý và rất đắt trên thị trường thế giới cũng như trong nước nên ma lực của trầm kỳ cuốn hút vô số người theo nghề này không quản hiểm nguy. „Ngậm ngải tìm trầm“ của Thanh Tịnh đã để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc cho Thu từ những ngày bé ở Hà Nội dù chưa một lần đặt chân đến Khánh Hoà Nha Trang này.Tương truyền Nữ Vương Po Nagar là vị thần được tạo nên từ mây trời và bọt biển, sản sinh ra gỗ quý, cây cối và lúa gạo đã hoá thân vào cây dó tạo ra trầm kỳ. Người có duyên với Thánh Mẫu thì được cho may mắn còn không thì có đứng bên cạnh cây dó có trầm kỳ cũng không biết. Nữ thần Po Nagar còn có tên là Thiên Y Thánh Mẫu hay còn gọi là Mẹ Xứ sở. Tháp Bà là một trong những thắng cảnh của Nha Trang. Ai đến Nha Trang cũng thấy tháp Bà từ xa, đứng sừng sững, cô đơn và trầm mặc. Tháp do vua Chămpa Harivarman xây từ năm 813- 817. Đây là khu đền thờ duy nhất của vương quốc cổ Chămpa được người Việt duy trì gìn giữ, tiếp tục làm nơi thờ tự sau khi người Chămpa dời việc thờ tự nữ thần của mình về phương Nam, xuống Phan Rang.Trải qua mưa nắng thời gian đã bị hư hại nhiều. Lòng tháp rỗng, cửa tháp đều hướng về hướng Đông. Trên thân tháp có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung. Tháp chính thờ thần Po Nagar là vợ của thần Shiva, trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cưỡi ngưu thần Nandin và tượng các linh vật. Trong tháp có tượng nữ thần bằng đá hoa cương màu đen, uy nghi ngồi trên đài sen, lưng dựa vào phiến đá hình lá bồ đề. Lá bồ đề trong Ấn Độ giáo là biểu tượng thiêng liêng, cao quý như hoa sen trong Phật giáo vậy, nên bất cứ nơi đâu có tháp Chàm là ta đều thấy motip này ở khắp nơi: trang trí, hoa văn, cổng tháp… Và đặc biệt các nơi thờ tự cúng tế của người Champa chỉ dành cho các vị tư tế mới được vào hành lễ chứ không phải cho đông đảo tín đồ như ở những tôn giáo khác nên lòng tháp thường rất hẹp, khi đi ra thì ta phải đi giật lùi. Đứng từ trên khuôn viên của quần thể tháp Bà ta có thể nhìn thấy con sông Cái và cây cầu bắc ngang sông, vào trung tâm thành phố Nha Trang. Vòng quanh một lượt xung quanh cả 4 tháp (3 tháp kia thờ thần Shiva, thần Ganeka và thần Sanhaka), ta bắt gặp một khung cửi với một phụ nữ Chăm vô cùng duyên dáng đang dệt khăn và một nơi trưng bày đồ gốm, đó là hai sản phẩm truyền thống của người Chăm từ bao đời nay. Ngoài ra còn có một quầy trưng bày tranh cát của một nữ nghệ nhân nói giọng Huế. Có tận mắt đứng xem bà dụng công tỉ mỉ rắc từng hạt cát, rồi lắc, rồi vỗ… mới thấy hết cái kỳ công của những bức tranh này. Nhìn những bức như „Thiếu nữ bên hoa huệ“ của Tô Ngọc Vân, hay tranh hổ lượn mình trong tư thế vồ mồi… thì ta không thể tưởng tượng nổi sao lại có thể có những người có đôi bàn tay tài hoa như vậy? Và vớí tài năng của mình, họ đã mang lại cho cuộc đời này bao nhiêu cái đẹp, bao nhiêu niềm vui. Nếu không vì nặng khủng khiếp như vậy thì Thu đã có ý tưởng phải làm triển lãm tranh cát này ở CLB mình rồi. Biết là rất nặng nhưng rồi hầu như ai cũng mua vài cái tranh nhỏ về tặng gia đình. Ở quầy bán trầm ai cũng mua một chút để làm quà và cũng để cho biết mùi trầm thật như thế nào. Chứ trầm thì chủ yếu là chỉ biết rằng có trong hương nhang và qua câu Kiều „Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai“ vậy thôi.

Xe lại quay trở lại Nha Trang để đến tham quan XQ sử quán, là một trong những địa chỉ khá độc đáo vì sự kết hợp không những chỉ giới thiệu nghề thêu cùng với lịch sử và vai trò, cuộc sống của những nghệ nhân thêu mà còn là cả sự kết hợp giữa nghệ thuật bài trí, kiến trúc, thơ ca, nhạc hoạ… Khung cảnh XQ của Nha Trang cũng như ở Đà Lạt đều là những không gian lớn, trang nhã.Trong khung cảnh đó có những cô gái dịu dàng thanh mảnh trong những chiếc áo dài đủ màu khoe sắc làm việc, dù là đang ngồi thêu, hay quét sân, hay bưng bình trà tiếp khách… đều nhã nhặn, khoan thai, nhẹ nhàng. Trong khuôn viên của Sử quán ta như thấy thời gian ngừng lại…dù gió vẫn bay, mây vẫn trôi. Những sản phẩm của XQ thì tuyệt vời về sự tinh tế và rất sống động. Cây cỏ chim hoa bướm rồi chân dung…tất cả đều uyển chuyển, mềm mại và rất có hồn. XQ làm sống dậy cả nghề thêu và đã làm cho khách thưởng ngoạn thêm thán phục những đôi bàn tay vàng của các nghệ nhân. Chỉ có những câu mà gọi là thơ treo khắp đó đây thì cảm thấy có gì đó ngô nghê, chỉ có thể nói lên rằng chủ nhân của chúng rất yêu thơ và ta tự hỏi liệu chủ nhân những câu thơ kia có nhầm lẫn gì với ca dao chăng? Nhưng không sao, người ta đến đây chủ yếu là vì họ có nhu cầu tìm hiểu về hàng thêu chứ có ai định bình thơ đâu. Mà thơ là của thiên hạ cơ mà, ai muốn làm thơ mà chẳng được? Đúng không? Vả lại khi người ta thành công về một phương diện nào đó, thường người ta hay có khuynh hướng cho rằng mình sẽ thành công luôn ở mọi lĩnh vực khác hoặc giả nói khác đi là họ muốn thể hiện mình trong nhiều lĩnh vực. Nhắc đến đây lại nhớ tới TBT của một tờ báo lớn. Không một số báo nào mà độc giả lại không phải đọc thơ của ông. Đã đành là ông biết viết. Công bằng mà nói có những bài không tệ. Nhưng không có nghĩa là hay đến mức mà số báo nào cũng phải có thơ ông. Lâu dần ông còn lấn sang các địa hạt khác là nhạc hoạ nữa. Chất lượng cũng na ná như thơ của ông.Đến mức một thằng hoạ sỹ bạn Thu còn phải bảo, à, Leona đờ AB gì đó chứ gì khi nhắc đến tên ông. Vậy nên thơ ông XQ thế là hợp nhẽ thôi. Nghệ thuật nào cũng đều có công chúng của mình cả chứ. Kiểu thơ:

„Anh yêu em như trưởng phòng yêu họp

Tuần ba lần vẫn không thoả em ơi“

vẫn khối người mê cơ mà. Nên không sao. Thế giới vẫn hoà bình, chẳng ai lại chết về thơ của ông X ông Y hay là các hoạ phẩm, nhạc phẩm của bà T bà Z nào cả chỉ vì nó dở. Mà trong nghệ thuật việc này nó vô cùng lắm, nó phụ thuộc nhiều vào trình độ của người thưởng ngoạn nữa chứ. Thế ngộ nhỡ chính anh không đủ trình độ để „thẩm“ những „tác phẩm“ đó thì sao? Thấy chưa nào. Phải suy nghĩ cho thấu đáo trước khi phát biểu chứ. „Biết thì thưa thốt“ nhé. Thôi, thôi, Thu sẽ „Dựa cột mà nghe“ thôi.

Rời XQ là rời Nha Trang. Lúc này khoảng 3 giờ chiều rồi. Còn cả chặng đường dài trước mặt. Đêm nay sẽ là đêm đầu tiên xe đi đêm đây. Đích đến sáng mai là Mỹ Sơn, rồi Hội An. Heike thì gà gật suốt, Bettina thì ngắm cảnh say sưa. Susanne, Conni, Katharina và Elke hát hò suốt buổi. À, Hoàn lại còn véo von “Tàu anh qua núi“ nữa nhé. Cả quãng đường đi qua biết bao những quanh co đèo dốc, hai bên đường toàn hoa ngũ sắc hay những bụi hoa mua hoa sim „Tím chiều hoang biền biệt“, cả chặng dài là „Biển một bên và xe một bên“, cảnh đẹp vô cùng. Có những lúc xe ở trên đèo nhìn xuống thấy quanh quanh biển trời xanh ngắt một màu, chỉ thiếu một bóng cò lẻ loi trong ráng chiều thu thì đúng thật là „Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc“. Có những đoạn xe chạy song song gần như cạnh sát mép biển, những bãi cát trắng chạy dài theo biển, những hàng phi lao vi vu trong gió, những vạt hoa muống biển tím ngăn ngắt một màu…thuyền bè ngoài xa đậu san sát khi chiều về… Biết bao nhiêu bãi tắm mời gọi mà nếu không vì kế hoạch thì có khi cả hội đã nhảy ào xuống nước để bơi lội cho thoả thích rồi. Qua đèo Cổ Mã, xe dừng lại ở bờ biển Đại Lãnh. Đại Lãnh là một trong những danh thắng của Việt Nam mà từ thời Nguyễn đã được đưa vào khắc trên một trong cửu đỉnh đặt trong Thế Miếu ở hoàng cung Huế. Những năm chống Mỹ, Đại Lãnh còn là một trong những điểm tập kết của những con tàu không số trên con đường Hồ Chí Minh lịch sử trên biển chuyên chở vũ khí vào Nam tiếp viện. Bãi biển Đại Lãnh cát trắng mịn trải dài thoai thoải, nước biển trong veo, tiếng phi lao như bản nhạc chiều làm hồn ta xao xuyến…Xuyên qua một cây cầu nhỏ, đi qua một công trường còn đang cưa đục ầm ầm, chỉ khoảng 30m thôi là ta đã ra đến biển. Chân trần trên cát, ngắm nhìn những chú dã tràng hấp tấp „Xe cát biển Đông“, hít thở không khí trong lành, ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng…Quả thật, trước trời nước mênh mang lòng ta dạt dào xao động, đó là tâm trạng của „Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài“ vậy. Katharina thơ thẩn dạo chơi chạy về hý hửng đưa Thu một mảnh san hô hình chữ V, cộng với chữ P tìm được ở Nha Trang nữa và bảo là sẽ tìm đủ chữ VINAPHUNU cho chuyến đi này. Bỗng dưng trời xầm xì, có vẻ có nhiều triệu chứng giông tố sẽ xảy ra nên mọi người đều tất tả về xe. Thấy một đoàn toàn phụ nữ đi qua, dù „không được trẻ lắm“ nhưng có lẽ cũng đủ làm dịu đi phần nào không khí công trường nên các anh công nhân xây dựng rất vui vẻ trêu đùa và chúng tôi cũng đối đáp lại rất thiện chí. Có đi nhiều, gặp nhiều, quan sát nhiều thì mới biết rằng cuộc sống còn cơ hàn lắm, còn vất vả lắm. Như những người công nhân xây dựng ở đây họ có đời sống vô cùng đơn giản, đạm bạc trong những cái lều trống hơ trống hoác ngay tại công trường nghĩa là ngay trên bãi biển, cách mép nước chỉ độ 20m, bếp củi bằng mấy viên gạch bắc ngay cạnh đó.Vậy mà khi nhìn vào trong lều ta thấy một cây ghi ta thùng treo trên vách. Sống và làm việc trong những hoàn cảnh tối thiểu như vậy mà họ vẫn vui vẻ yêu đời thật là đáng khâm phục. Nhớ một lần nào đó đi Sapa, dọc đường Thu cũng đã nhìn thấy những cái lán của công nhân làm đường ở giữa nơi đèo heo hút gió. Giữa thời đại mà người ta toàn nhà lầu xe hơi, một bữa nhậu có khi còn hơn cả tháng lương của những người công nhân này vậy mà họ vẫn bám trụ trên từng cung đường để cho xe ta có thể bon bon đi đến nơi về đến chốn. Lòng cảm thán mãi, Thu đã chỉ cho Tyty để cho Tyty hiểu rằng, một việc đi lại tưởng rất bình thường thôi nhưng là biết bao công sức, là biết bao hy sinh của những con người hết sức bình thường và hạnh phúc cho mọi người, hạnh phúc cuộc đời này đều được xây dựng nên từ những công việc hết sức bình thường, từ những con người hoàn toàn bình thường, giản dị như vậy. Ghé vào hàng nước thì thấy cô bán hàng chỉ vào một toà nhà đang xây cất dở dang nghĩa là mới chỉ thấy đó là một cái khung nhà mà thôi, hoang phế chắc cũng đã rất nhiều năm, nay trở thành Toilette công cộng cho lữ khách và kể rằng chẳng hiểu sao đang xây nửa chừng thì bỏ đó cả chục năm rồi. Dĩ nhiên là cô không hiểu là đúng rồi. Và chắc chắn là không phải mỗi mình cô mà còn biết bao nhiêu người nữa, bao nhiêu sự việc nữa trên đất nước này cũng không thể nào hiểu được. Gió bão đã bắt đầu giật đùng đùng, cô bán hàng phải cùng với em mình co kéo mãi mấy cái lều để cho khỏi bị lật. Cuộc sống nơi đây sao khắc nghiệt làm vậy. Đâu có phải mỗi chuyện buôn bán khó khăn mà còn khí hậu thời tiết miền Trung vô cùng khắc nghiệt. Nóng thì như thiêu như đốt, lạnh thì thấu da thấu thịt rồi không lụt lội thì lại hạn hán… Sau khi mua vài thứ mang đi đường, chào hỏi mấy chị em cô rồi xe chuyển bánh. Mưa như trút. Trời bắt đầu tối. Xe chạy trong đêm qua biết bao nhiêu xóm làng, thành phố và có dừng ở một nơi nào đó để định nghỉ ngơi ăn uống nhưng phần thì đã mang quá đủ đồ đi đường, phần thì kinh hãi vì cái sự bẩn thỉu của quán đó nên tất cả lại lên xe trực chỉ hướng Bắc. Cả một đêm, để „uỷ lạo tinh thần“, Thu ngồi trò chuyện với Sáu và Kim cho cả hai đỡ buồn ngủ. Chuyện trên trời dưới bể rồi cũng có lúc hết chuyện chứ, thế là ngồi thừ ra miên man nghĩ chuyện đời, chuyện mình. Trời mưa gió lúc chiều mấy cô bán hàng chỗ xe dừng có chạy kịp mưa không? Nước biển mà bão tố thế này chỗ lều của mấy người công nhân xây dựng ở ngay trên bãi biển có bị nước ngập không nhỉ? …Có phải nhờ những „đêm không ngủ“ này mà ta có thể ngộ ra nhiều điều chăng?

Cứ tưởng rằng chỉ khoảng muộn nhất 1giờ khuya là đến Tam Kỳ vậy mà rồi cũng phải đến 3 giờ rưỡi sáng Thu mới gặp được Vân và Uyên là hai em con cô ruột của mình. 25 năm nay không gặp nhau, một phần tư thế kỷ là một quãng thời gian rất dài cho một đời người. Mới ngày nào Uyên còn là con bé con xinh xắn vào Sài Gòn thăm anh chị, Vân còn là một thiếu nữ trẻ trung yêu đời, cô giáo yêu nghề, chị em gặp nhau là ríu rít đủ chuyện của những cô gái trẻ mới bước đầu vào đời… vậy mà đã bao nhiêu thay đổi, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu rồi hai em nhỉ. Gặp nhau lần này chị em mình tóc đã bạc quá nửa, „Má thôi hồng và môi đã thôi tươi“, những nếp nhăn lo toan, dấu vết cuộc đời đã hằn sâu trên mặt… Từ các „cô nương“ đã thành các „bà bà“ thậm chí „xú bà bà“ lúc nào không hay. Bỗng nhiên Sáu phát hiện ra là bánh xe bị xẹp như là bị đinh châm vậy. Thế là Vân và Uyên phải phóng xe đằng trước để chỉ đường cho Sáu chạy đến chỗ vá xe. May quá, chỉ phải chờ đợi vụ vá xe này ở Tam Kỳ khoảng tiếng thôi. Trong lúc đó thì Thu ngồi uống cà phê và trò chuyện với Vân và Uyên. Hầu như cả xe ngủ say hết, chỉ có vài người biết sự cố này thôi. Tố Vân và Nga tỉnh táo lắm, xuống cà phê cà pháo với Thu và Sáu với Kim, còn chụp ảnh kỷ niệm với hai em Thu nữa chứ. À ở Tam Kỳ này Thu có một kỷ niệm mà có lẽ „Chẳng thể nào quên được“. Đó là việc Thu bị đau họng nên nhờ hai em mang từ nhà ra một chai nước muối để xúc miệng. Nên khi Vân, Uyên vừa đến Thu hỏi ngay và hý hửng khi thấy hai đứa không quên. Chỉ sợ chúng nó nghe tin gặp chị mừng rỡ quá rồi lại chờ đợi từ nửa đêm đến 3 rưỡi sáng mới gặp, nhỡ quên mất thì sao. Nên khi vừa lúc Uyên đưa cho chị chai nước muối là vội vàng hăng hái làm ngay một ngụm vì quá nóng lòng cho khỏi cái giọng vốn đã rè rè khàn khàn (mà thường xuyên có người gọi điện đến nhà khi Thu cầm máy thì toàn thấy đầu dây kia yêu cầu anh cho tôi nói chuyện với chị Thu?!) với hy vọng là đỡ đau bởi chặng đường còn dài, còn nhiều sự kiện mà còn phải nói nhiều, còn phải kể chuyện, diễn thuyết trình bày…nhiều, tóm lại là còn phải sử dụng rất nhiều đến cái „sàn giao dịch“ này. Thế nhưng phải nhổ phắt ngay ra vì đó là một thứ nước gì đó mà mặn mặn, lờ lợ. Khiếp quá, Thu quay sang hỏi em có mang nhầm cho chị nước gì không đó. Tỉnh bơ, thấy con bé em trả lời rằng nhà không biết sao tìm mãi không ra muối chị ạ, nên em lấy bột canh thế vào, trong đó cũng có muối mà. Ối giời đất ơi là giời. Cái vị nhờ nhợ ấy có lẽ còn ám ảnh đến khi nhắm mắt xuôi tay mất!!! Xe đi tiếp, Thu lại ngồi chuyện trò với Kim vì Sáu phải tranh thủ ngủ một lúc. Thế là cả đêm nay Thu chỉ ngủ có đúng 1 tiếng đồng hồ mà thôi. Ngó bộ vậy mà Sáu và Kim thay nhau lái nên ngủ cũng còn được nhiều hơn Thu ấy chứ. Cô Tường và Nga thấy Thu thức một mình lâu quá nên xuống nói chuyện cho vui và Nga đòi thức thế cho Thu. Thế mà một tiếng sau Thu thức dậy thì đã thấy Nga đi ngủ từ bảy mươi đời rồi có chết không cơ chứ lỵ.

10/3

Đích đến tới này là Mỹ Sơn. Mỹ Sơn nằm trong huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng khoảng bảy chục cây số và cách thành cổ Trà Kiệu, kinh đô của Vương quốc Champa cổ xưa chỉ khoảng hai chục cây. Nhớ xưa Đào Tấn, ông tổ của hát bội VN, nhà sọan tuồng nổi tiếng, có thời kỳ làm quan ở huyện Duy Xuyên này. Chuyện kể rằng có lần đi nghe hát gặp một cô đào hát cực đẹp mà ông không biết. Sửng sốt trước vẻ đẹp của cô ông đã làm bốn câu thơ tuyệt hay đề tặng:

„Mộng Mai ở Duy Xuyên chín tháng

Cớ sao không biết nàng Lý Kỳ

Theo quan Tây Xuyên xưa họ Đỗ

Hải đường đẹp nhưng không đề thi“.

Tên của thân mẫu thi hào Đỗ Phủ đời Đường là Hải Đường. Vậy nên ông làm thơ ngâm vịnh ca ngợi tất cả các loài hoa, trừ hoa hải đường. Nhưng không vì thế mà vẻ đẹp của hải đường bị mai một. Ý ông – với tên hiệu là Mộng Mai – là sắc đẹp của nàng Lý Kỳ không vì cái sự ông không biết đến mà bị lu mờ. Mọi người vỗ tay tán thưởng và từ đó nàng Lý Kỳ trở thành hồng nhan tri kỷ của ông.

Khoảng 5 giờ rưỡi sáng đến Mỹ Sơn. Đến quá sớm nên bộ phận hành chính của nơi tham quan thánh địa Mỹ Sơn vẫn chưa mở cửa. Toilette cũng còn chưa có cả nước để dùng nữa, phải vào ý kiến mãi thì người ta mới „linh động“ mở cho sử dụng. Ở văn phòng đây có ba chú cún baby dễ thương lắm, mới 6 tuần tuổi, cứ lon ton đi ra đi vào mừng rỡ vì chắc là bỗng nhiên thấy có nhiều khách nên vui quá. Đúng là như trẻ con vậy. Yêu quá đi mất, Hương và Thu bế ẵm mãi. Một chú cứ rúc đầu vào ngực Thu, chắc là nhớ mẹ quá vì xa mẹ thế là cũng hơi sớm (có anh bảo vệ ở đây xin chúng ở đâu đó về nuôi). Giá mà Thu mang đi được! Chó nói riêng và thú vật nói chúng đều có bản năng yêu ghét rất mạnh bởi chúng không bị những định kiến trong xã hội loài người chi phối. Nên yêu ghét nơi chúng rất rõ ràng, không vờ vịt. Có yêu thương, tìm hiểu và quan sát chúng, ta mới hiểu và thêm yêu chúng. „Từ khi nghiên cứu về người, tôi chỉ yêu chó“, nghe nói đó là một câu nói khá nổi tiếng được đặt trên bàn làm việc của một kẻ độc tài. Bỏ qua sự thất vọng về con người và những quan điểm chính trị của hắn thì ta thấy loài chó đáng yêu đến như thế nào. Đằng nào cũng phải chờ đợi đến giờ mở cửa nên mọi người tản mát khắp khuôn viên của văn phòng thánh địa Mỹ Sơn, Thu leo lên xe thẳng cẳng một giấc để bù lại cả đêm không ngủ. Được khoảng tiếng đồng hồ thì đến giờ mở cửa cho khách tham quan. Khi Thu mở mắt ra thì xe đã vào tận trong, gần sát thánh địa rồi, chỉ việc đi bộ một lúc thôi là chiêm ngưỡng được toàn bộ quần thể di tích. Thánh địa Mỹ Sơn là một quần thể kiến trúc cổ của dân tộc Champa gồm hơn 70 đền tháp có niên đại từ TK 4 -13 được phát hiện từ khoảng hơn một trăm năm trước đây, qua những năm chiến tranh bị bom tàn phá và thời gian xâm thực giờ chỉ còn lại khoảng ba mươi di tích. Giá trị văn hoá lịch sử của quần thể đền tháp Mỹ Sơn được biểu hiện qua các hoa văn, bi ký còn lưu lại. Về kiến trúc, thánh địa Mỹ Sơn có nhiều phong cách, nhưng chủ yếu là mang phong cách Ấn Độ giáo mặc dù từ TK 10 phật giáo Đại Thừa đã trở thành tôn giáo chính của người Chăm. Mỹ Sơn đã từng là trung tâm văn hoá và tôn giáo của vương quốc Champa, không chỉ là nơi hành lễ để các bậc vua chúa tiếp cận với thần linh mà còn là nơi chôn cất các thầy tư tế và vua chúa cũng như hoàng tộc, quyền quý. Riêng về việc xây cất đền tháp này như phương thức nung gạch, chất liệu gắn kết, kỹ thuật xây dựng… cho đến bây giờ vẫn là câu hỏi bí ẩn với các nhà nghiên cứu kiến trúc, khảo cổ…. „Vẻ rực rỡ đã tàn bao năm trước“. Vừa ngẫm nghĩ những câu thơ trong „Điêu tàn“ nổi tiếng khi xưa của Chế Lan Viên, vừa tha thẩn ngắm nghía, chiêm ngưỡng những đường nét tinh tế trong các tượng hay phù điêu hay hoa văn đỉnh tháp, chân cột… trong khắp khuôn viên thánh địa, từ trong cái hoang phế tàn phai này ta vẫn như thấy được những ngày xưa huy hoàng tráng lệ của vương quốc Champa, vẫn như nghe thấy tiếng vọng của ngày xưa, của một quá khứ vàng son đã mất. Trong suốt hơn 1000 năm tồn tại, các vua Champa đã để lại ở Mỹ Sơn biết bao công trình kiến trúc đền đài kỳ vĩ, những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ, những bia chứa đựng những thông tin vô giá… và

„Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi

Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian

Những sông vắng lê mình trong bóng tối

Những tượng Chàm lở lói rỉ rê than“

với „Muôn ma Hời sờ soạng dẫn nhau đi“… Dẫu biết rằng sự tồn tại và hưng vong của một quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên nhưng sao lòng ta vẫn bùi ngùi. Vẫn có gì đó nhói đau, thương cho kiếp người nói riêng và cuộc đời nói chung. Rời khu phế tích tham quan, cả đoàn được xem biểu diễn văn nghệ Chăm. Sự uyển chuyển, duyên dáng, tinh tế trong từng cái uốn mình, cái xoè tay, cong cổ chân… của các vũ nữ đã thật sự chiếm được cảm tình của khán giả. Những điệu múa rộn ràng ngày mùa của trai gái Chăm khiến lòng ta lại lạc về những câu thơ của Chế thi sĩ ngày xưa

„Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc

Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi

Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp

Áo hồng nâu phủ phất xoã lời vui…“

Katharina hạnh phúc thưởng ngoạn và thấy đặc biệt ấn tượng là khi những Chiêm nữ uyển chuyển uốn mình hoa trong tiếng sáo mơ màng và lão nghệ nhân Chăm với kỹ thuật thổi kèn điêu luyện của mình đã chinh phục biết bao khán giả hôm nay. Cả đoàn sau đó còn trò chuyện cùng các vũ nữ, nhạc công và xin chụp ảnh kỷ niệm.

Rồi xe chuyển bánh về Hội An. Từ Mỹ Sơn về Hội An không xa lắm nên chỉ khoảng trưa trưa là xe đã đỗ trước khách sạn Hoàng Trinh rồi. Chắc do thiếu ngủ nên mắt mũi Thu không hiểu thế nào lại nhìn thấy là khách sạn „Hoài Trinh“, bụng bảo dạ sao lại có duyên với đoàn này thế nhỉ? Hợp với đoàn này quá đi!!! Đang tiếc cả đây! Là một khách sạn nhỏ bé nằm ngay bên miếu Khổng Tử và cũng rất gần trung tâm phố cổ nên đi lại rất tiện, đi bộ chỉ khoảng mươi phút thôi. Mọi người nhận phòng và khuân được hết đồ đạc vào xong thì còn lại là thời gian nghỉ ngơi. Tuỳ nghi di tản. Đến 1 giờ chiều mới gặp nhau để đi thăm phố cổ Hội An. Thế mà không ai bảo ai, cứ tưởng đi ngủ cả, nhưng đâu phải. Từng nhóm từng tốp rủ nhau đi ăn trưa, hay vào chơi phố cổ vì nóng lòng quá do nghe đồn nhiều về vẻ đẹp của Hội An nên cầm lòng không đậu tót đi trước. Cô Tường, Đông, Thu, Lê, Nga, Hưởng thế nào lại chọn đúng một quán ăn mà bà chủ quán lại rất mê hát nên ngồi ăn cả buổi là nghe gần hết cả băng thâu giọng hát của bà. Trong quán có phòng karaoke rất lớn và mời mọi người nếu ai thích hát thì vào luôn. Ông chồng không hiểu sao thái độ rất khó chịu với khách. Thu đồ chừng là ông chồng chịu không nổi sự „yêu nghệ thuật“ của bà vợ và chắc chắn là còn kèm cả những hệ luỵ của nó nên phản ứng như vậy. Đấy cũng là phản ứng rất thường tình, rất người của những ông chồng bất lực trước một người vợ có điểm gì đó có ưu thế hơn mình. Hoàn toàn hiểu được và thông cảm được. Bởi thái độ hắn ta như vậy nên món cao lầu nổi tiếng của Hội An chẳng thấy ngon lành gì cả. Vô tư mà nói món này cũng chẳng thấy có gì đặc biệt, kể cả nhà hàng đó có nêm nếm ngon hơn và „thằng chả“ có dzui dzẻ hơn đi nữa. Tất nhiên đó là vấn đề khẩu vị của từng người nên không tranh luận. Nhưng hay nhất là đến chiều lúc gặp nhau, hỏi thăm ra thì đoàn ta cũng khối vị vào quán đó và cũng bực mình thái độ chủ quán và cũng chê ăn không ngon. Tất nhiên cũng nhiều vị leo lên phòng và ngủ như chết luôn cho đến lúc hẹn nhau vì đêm qua đi đường tuy gọi là ngủ nhưng cũng không thể nào ngon như trong chăn ấm đệm êm được. Lẽ dĩ nhiên là như vậy. “Nếm mật nằm gai“ là chuyện cực chẳng đã thôi. 13 giờ tập trung dưới sảnh. Thấy tươi roi rói hết vì chắc là ngủ đủ và cũng lửng bụng rồi. Tà tà cả hội kéo nhau ra phố cổ dạo chơi.

Trong lịch sử hình thành và phát triển, khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng một quần thể di tích kiến trúc cổ gồm nhiều công trình như nhà ở, hội quán, đình chùa, miếu mạo, giếng, cầu, nhà thờ tộc, cảng, chợ…và những con đường hẹp chạy ngang dọc tạo thành ô vuông như bàn cờ. Sự tồn tại một đô thị như Hội An là trường hợp duy nhất ở Việt Nam và cũng hiếm thấy trên thế giới. Hội An chính là một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị. Từ TK 16-19 Hội An đã từng là trung tâm mậu dịch trên hành trình thương mại Đông Tây, là một thương cảng phồn thịnh nhất ở xứ Đàng Trong của Việt Nam trong các triều đại chúa Nguyễn. Nổi bật nhất là một di tích có kiến trúc khá đặc biệt, chùa Cầu còn có tên là Lai Viễn Kiều do Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên cho vào năm 1717 khi Chúa đến thăm Hội An, có nghĩa là „Bạn từ phương xa đến“ chắc ý của Chúa khi đó là nói về những thương gia Nhật Bản đến ở Hội An và đã làm Hội An ngày càng phát triển và phồn thịnh. Cái đặc biệt của chùa Cầu nữa là hai đầu cầu có thờ tượng chó và khỉ luôn đội khăn đỏ. Có người thì bảo là do chùa xây từ năm Thân mà đến năm Tuất mới xong, nhưng có người lại bảo đó là hai con vật mà người Nhật thờ tự từ cổ xưa. Chùa Cầu được coi là biểu tượng của Hội An cứ như là chùa Một Cột là biểu tượng của Hà Nội vậy. Dáng cầu thanh thoát, cong cong khiến ta lại nhờ đến những phù kiều của Tô Châu. Tấm ảnh cả đoàn đứng trên chùa Cầu là một trong những tấm ảnh đẹp nhất của cả chuyến đi. Cả đoàn còn được xem một lễ hội rất tưng bừng ngay cạnh chùa Cầu, hình như của ngư dân hàng năm lễ tạ thần Cá thì phải. Thư thái thả mình trong những bước chân trên khắp hè phố Hội An. Lang thang để ghé vào một quán cà phê nhỏ ngồi nhâm nhi ly cà phê đắng trong một không gian đầy ắp „Tiếng hát nồng nàn và tình ái“ của Khánh Ly với Sơn Ca 7…Trên tường nhà ai đó vươn dài những dây leo hoa tím trễ nải. Dù là đây đó du khách dạo chơi, các phòng tranh, triển lãm, hay các cửa hàng cửa hiệu thủ công mỹ nghệ vẫn mở cửa chào đón khách, nhưng ở phố cổ Hội An ta vẫn thấy cái vắng lặng mơ màng, vẻ đẹp hư hư thực thực của Hội An khó lòng mà tả hết thành lời được. Ở Hội An người ta nên đi một mình để lòng thật trống trải, để mình tự đối diện với mình, ta tự hỏi được lòng ta thì có lẽ mới cảm được hết vẻ đẹp của Hội An. Qua một cửa hàng đồ chạm khắc gỗ, Đức đặt ngay làm một đôi guốc hẹn sáng mai mang đến tận khách sạn, không biết có ưng ý không đây. Ở Hội An nổi tiếng nhất cho du khách là việc may quần áo, chỉ một vài tiếng là lấy được ngay. Và cũng nổi tiếng nữa là việc giữ chữ tín. Dù đã mua rất nhiều đèn lồng rồi nhưng để triển lãm thì vẫn chưa đủ nên Thu cách đây dăm năm là đã phải điện từ Berlin về cho cửa hàng đèn lồng và đặt hàng, xong nhờ gửi vào Sài Gòn để Quang gửi sang Đức cho Thu. Mọi việc đều theo đúng yêu cầu và tốt đẹp cả. Nhưng ngày ấy cũng đã hơi lâu rồi, liệu cơn lốc du lịch có làm thay đổi cuộc sống hay con người Hội An như nhiều nơi khác không? Hy vọng Hội An vẫn mãi sẽ là một trong những nơi chốn mà khi đi xa người ta còn có những tình cảm yêu quý khi nghĩ về đất nước quê hương.

Tách mọi người ra, Thu sau khi đã thấy được „mục tiêu“ liền vội vàng „oanh tạc“ ngay, và thế là đề tài cho triển lãm Tết 2011 của ASIATICUS đã hoàn thành đúng theo ý tưởng của Tyty đề ra. Trong lúc mọi người dạo chơi phố phường thì Thu chạy về khách sạn để cất đồ vì nặng thì không hẳn nhưng mà cồng kềnh vì toàn ống là ống, dài ngắn rất lổn nhổn. Vả lại là hẹn với Vân và Uyên là hai em sẽ về Quảng Ngãi chở mẹ ra để cô cháu gặp mặt chứ không thì biết thuở nào mới thực hiện được vì cô ở tận trong quê kể từ khi chú mất và cô lại đau ốm như thế. Mà trong khi đó thì cái handy lại hết pin thế là toàn bộ số máy từ hôm qua đến hôm nay ở trong đó cả. Vậy nên chỉ có về khách sạn để cắm máy thì hy vọng mới liên lạc được với các em thôi. Lòng lo cuống lên vì đã hẹn với các em khoảng giờ này mà nhỡ chúng nó đưa cô lên, không liên lạc được biết đâu mà tìm cả cái Hội An này thế là Thu hộc tốc phóng taxi về. Đến nơi, cắm mãi không nạp được pin để mở máy vì không hiểu sao máy hỏng. Thế là không còn phương cách gì để thông báo hay liên hệ với mấy đứa em được vì làm gì có số máy của chúng trong đầu đâu. Hy vọng nhỡ đâu trong đoàn sáng nay có ai lại có số của hai đứa chăng dù điều đó là không thể. Thế là thôi đành ra đường hú hoạ vậy. Vậy mà, lạ không? Cả cái Hội An rộng chứ, bỗng dưng vừa ra khỏi cửa thì thấy một xe ôtô con đầy nhóc người trong đó, ầm ĩ gọi chị Thu ơi. Thì ra đúng như Thu dự đoán, không liên lạc được với Thu, cả nhà không biết làm cách nào cũng cứ đi hú hoạ vậy mà gặp ngay. Cô Chi và các em cứ suýt xoa mãi là chắc có điều gì thiêng liêng ở đây nên ông bà mới phù hộ cho cô cháu chị em gặp nhau như vậy, như chuyện sáng nay tự nhiên xe bị hỏng lúc đó cũng là do ông bà khiến như vậy để chị em gặp nhau được lâu lâu một tí sau bao năm trời xa cách. Bao nhiêu năm rồi lần cuối Thu gặp cô Chi là đã cách đây 16 năm, ngày bố mất ở Sài Gòn cô từ Quảng Ngãi vào. Bây giờ cô giống hệt bà nội ngày xưa, thấp lùn bé tí và còng gập lưng lại. Đây là người cô ruột duy nhất hiền lành nhất mực của Thu, cả đời không nói to với ai và luôn bị bắt nạt. Đây là người em gái mà hai anh trai ở miền Bắc luôn nhớ thương trong suốt gần 30 năm chia ly bởi khi hai anh đi ra Bắc học là cô mới có 12 tuổi. Có lẽ Thu thừa hưởng được ở cô mình sự thích nấu ăn và nấu ngon cũng như khéo léo thêu thùa đan lát. Bây giờ nhìn cô lại nhớ đến lời bà nội khi xưa nói rằng cuộc đời nhanh lắm cháu ạ mà khi đó do sự ngông cuồng của tuổi trẻ đời nào lại tin (thậm chí còn láo toét cười khẩy nữa ấy chứ)! Mới hay rằng Phật đã dạy kinh nghiệm là do tự thân mỗi người, không ai làm hộ ai được. “Ai ăn thì người ấy no, ai tu thì người ấy chứng„ là vậy. Khi nghiệm ra được thì đã da mồi tóc bạc rồi. Thế là lại thêm Thu nhồi vào xe nữa, thằng em rể lái xe đưa cả nhà đi ăn cơm gà, trò chuyện cô cháu chị em xong thì cả nhà ra Đà Nẵng chơi. Chia tay cô, Thu cứ nghĩ biết bao giờ gặp lại và cô đã già yếu vậy, có gặp lại được cô nữa không? Ở đời lần chia tay nào mà đều chẳng có thể là lần cuối, bất trắc có chừa ai bao giờ. Buồn vì cô không thể ngủ lại một đêm vớí Thu như cô muốn, khách sạn lần này chật và sáng mai cả đoàn đi sớm rồi. Thu biết rằng, điều này sẽ có thể làm Thu sau này sẽ ân hận đây nhưng có biết bao nhiêu chuyện trên đời này, biết là vậy mà vẫn không thể khác được do tình thế bắt buộc vậy.

Chia tay cô và các em xong, Thu hẹn gặp mọi người ở một tiệm cà phê ngoài bờ sông Hoài. Nga, Hiên, Đức, Lê, Hưởng và Vânchèo đang nhâm nhi cà phê chờ Thu trong quán. Đi dạo dọc sông mới thấy hết vẻ đẹp của Hội An về đêm. Ánh đèn lồng soi bóng hắt xuống dòng sông. Cả Hội An mơ màng trong một không gian lung linh huyền ảo. Thói quen thắp đèn lồng trong những ngày rằm của người Hội An đã có từ nhiều thế kỷ trước. Ở Hội An ta như lạc vào một không gian khác, một thời gian khác, nhẹ nhàng, thoát tục mà vẫn dung dị, đằm thắm. Trung tâm Hội An cũng không lớn nên rồi cũng gặp nhau hết. Thấy cô Tường và hội kia kể đi ăn cơm ở quán nào đó, có rau xào ngon lắm. Đi chơi đêm ở Hội An trong muôn ngàn ánh đèn lồng rực rỡ rồi đây chắc chắn cũng sẽ là một kỷ niệm đẹp khó phai mờ trong tâm tưởng mỗi chúng ta. Sau đó cả hội thế nào lại sà vào một hàng trứng vịt lộn ở một góc đường gần chùa Pháp Bảo mà buổi chiều đã ghé tham quan. Cô bán hàng sợ quá vì cô ta không còn đủ và cả hội thì ý chừng là có vẻ hậm hực vì ăn chưa đã miệng, thế nhưng may mắn quá là chéo bên đường lại có hàng cháo gà. Xử lý luôn. Đi thêm một quãng nữa, gần về đến nhà, lại thấy bên đường đề trứng vịt, trứng cút lộn, cả lũ mặt mũi rạng rỡ hẳn lên. Sáp dzô và hình như sau khi quất thêm vài trăm ngàn nữa, theo lời Hiện hể hả thông báo, thì mới yên yên cái bụng về đi ngủ. Một ngày ở Hội An trôi qua “êm đềm“ như vậy. Đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần.

11/3

Sáng nay mọi người dậy tương đối sớm để trả phòng đi Đà Nẵng rồi đi Huế. Mấy cô nhân viên ở quầy tiếp đón lại còn tặng mỗi người một túi gấm nhỏ để làm kỷ niệm nữa chứ. Dù là món quà nhỏ thôi nhưng ai cũng có vẻ khoái trí cả. Thế mới biết rằng con người ta ở đời ai cũng muốn và thích mình được quan tâm đến cả. Nhỏ thôi nhưng nó là cái sự quan tâm đến nhau. Nhưng vấn đề ở chỗ là mình muốn gì, thích gì thì người khác cũng vậy thôi. Chứ chỉ một chiều thì khó sống lắm là vậy. Vì khách sạn Hoàng Trinh này ở ngay sát miếu Khổng Tử nên trước khi rời Hội An cả đoàn cùng ra chụp ảnh tại đó để kỷ niệm. Bởi đang trong giai đoạn trùng tu lần thứ hai nên dù có muốn tham quan thì miếu cũng không mở cửa. Thấy nói năm 2004 sau đợt 1 thì hậu điện và chánh điện của miếu đã được tu bổ hoàn tất với chi phí lên đến ¾ tỷ và hơn 40% là do Quỹ Đại Sứ quán Canada tài trợ. Chưa vào đến bên trong, nhưng trông bên ngoài, kiến trúc của miếu rất đẹp, có cầu đá hình bán nguyệt chạm trổ, có hồ thả sen, sân rộng rãi và thoáng đãng…Hy vọng là việc trùng tu này nghiêm túc trên cả phương diện tài chính lẫn chuyên môn, chứ không như ngoài Bắc không hiểu tiền rót vào thế nào cũng như không hiểu những người thực hiện có tí chút nào kiến thức về thẩm mỹ hay lịch sử, văn hoá gì không mà không biết bao nhiêu chùa chiền sau khi trùng tu cứ xanh xanh đỏ đỏ loè loẹt, phản thẩm mỹ hết sức. Trước cổng miếu có một thương phế binh của chế độ cũ cụt hai chân, ngồi xe lăn đi bán con tò he. Thường khi tiếp xúc với những người như ông ta sẽ rất hay có cảm giác ái ngại vì hoàn cảnh tàn tật và chắc kinh tế cũng chẳng dư dả gì thì mới đi bán rong thế chứ. Nhưng mà không, ông rất vui tươi, thoải mái kể về hoàn cảnh của mình một cách rất lạc quan, cười nói, pha trò…Tất nhiên cũng không ai ngây thơ gì mà bảo rằng ông toàn vui như vậy, không bao giờ buồn, nhưng phải nói quả thật đáng nể phục. Chỉ riêng việc là một người tàn tật như vậy mà ông vẫn làm việc và vẫn ham sống đã là quá khâm phục. Nhìn lại mình mới biết những bất hạnh của mình vẫn chẳng là gì cả nếu nhìn biết bao những hoàn cảnh khốn khó của cuộc đời. Bởi vậy thái độ đối với cuộc sống là vô cùng quan trọng. Sao ta lại không hài lòng với những gì ta đã và đang có trong cuộc đời nhỉ. Biết cả vậy nhưng mà sao khó quá thay. Làm người có khó quá không? Rồi cảm thương và mến phục sức sống lan toả ra từ người đàn ông phế binh này, ai cũng mua cho ông ít nhất là vài con tò he để kỷ niệm Hội An và cho con cháu trong nhà, đứa tuổi tí thì mua con chuột, đứa tuổi thìn thì mua con rồng… Con tò he của Hội An đều xuất phát từ làng gốm Thanh Hà nổi tiếng có lịch sử 500 năm nằm bên bờ sông Hoài. Tò he của Thanh Hà Hội An có đủ 12 con giáp chứ không chỉ thuần tuý chim cò như những tò he ở nơi khác làm ra và thường để nguyên màu đất nung hay sơn đỏ đỏ, trông rất ngộ nghĩnh. Du khách đến Hội An thường bao giờ cũng mua vài con về làm quà cũng chẳng phải vì thích thổi cho kêu mà đơn thuần nhiều khi chỉ trưng vậy thôi, để khi nhìn đến thì nhớ Hội An, mà nhớ đến một lần mình đã đến Hội An, để mà nhớ một chiều mình đã đi dạo qua con phố nhỏ vắng lặng, nơi khắp trên những cây bàng là những đèn lồng muôn màu khe khẽ run lên trong gió mơ màng, bên tường nhà ai một nhánh hoa cát đằng tim tím đu đưa, nhả một vòng khói thuốc trắng bên ly cà phê nâu quen thuộc, hồn mình như ngất ngây, lòng mình như run lên trong giọng hát mơ hồ xa xăm của Khánh Ly với “Tình ngỡ đã phôi pha, nhưng tình bỗng lại về…“ rồi tự hỏi mình đã được gì và mất gì trong cuộc đời này…

Từ Hội An ra Đà Nẵng xe chạy chỉ khoảng một tiếng đồng hồ. Vì Ngũ Hành Sơn không có trong chương trình nhưng xét thấy thời gian có thể thực hiện được nên Thu bàn với cô Tường và được bổ xung ngay sau khi cô Tường đề nghị và tính toán với Sáu. Đi qua Đà Nẵng mà lại không ghé Ngũ Hành Sơn thì quả là một sự khiếm khuyết. Trước đó cả đoàn còn dừng chân thăm một cửa hàng và đồng thời là cơ sở điêu khắc mỹ nghệ đá Non Nước. Đá của Ngũ Hành Sơn nổi tiếng là đá ngũ sắc rất đẹp, tuy nhiên màu sắc mỗi nơi mỗi khác, như đá ở Thuỷ Sơn thì màu hồng, ở Mộc Sơn màu trắng, Thổ Sơn màu nâu, Hoả Sơn màu đỏ và ở Kim Sơn thì màu thuỷ mặc. Nên đẹp vô cùng những sản phẩm điêu khắc ở đây, ngoài việc để trang trí nội thất hoặc hoa viên thì đề tài chủ yếu là tôn giáo như tượng Đức Mẹ, hay Đức Quán Thế Âm, Đức Thích Ca, Đức Di Lặc…. Ai cũng mua, không nhiều thì cũng phải một hai tượng nhỏ hay lọ hoa làm kỷ niệm hay vòng đeo cổ, đeo tay của đá Non Nước này. Ra đằng sau chỗ nơi sản xuất cưa đục bụi mù mới thấy để ra được một sản phẩm mỹ nghệ vất vả vô cùng. Trò chuyện với chị công nhân bịt khẩu trang kín mít đang ngồi đánh bóng một pho tượng cỡ trung bình thì được chị kể cho nghe là chỉ riêng việc mài cho nhẵn thôi sản phẩm này cũng đã hết một tuần rồi mới có thể mang ra trưng bày để bán được. Hình ảnh một người phụ nữ bé nhỏ, bịt mặt, cần mẫn trong cái nóng hầm hập ấy, giữa không khí mịt mù bụi đá, ầm ầm đục đẽo cưa xẻ đó để ngày ngày chà xát, đánh bóng các sản phẩm từ đá mang lại những cái đẹp cho đời sẽ mãi là một hình ảnh đẹp về một trong muôn vàn người phụ nữ lao động vất vả nhọc nhằn đã gặp trong suốt quãng đường thiên lý của đoàn. Tưởng sẽ không lâu chỉ xem chơi chơi vậy vậy, thế mà rồi rị mọ xem hàng điêu khắc, mua mua bán bán cũng phải cả hai tiếng trong đó, xe chạy đến Ngũ Hành Sơn là cũng đã trưa trưa rồi. Ngũ Hành Sơn gồm có 5 ngọn núi mang tên của ngũ hành là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn, Hoả Sơn và Thổ Sơn. Trong tư duy cũng như trong đời sống tâm linh của người Á Đông thì con số 5 với ngũ hành đóng một vai trò quan trọng. Vì vậy bản thân trong 5 ngọn núi mang tên kim, mộc, thuỷ, hoả và thổ của Ngũ Hành Sơn đã mang trong mình sự kỳ ảo, huyền bí. Ngũ Hành Sơn là nơi mà chùa chiền và hang động, cảnh đẹp do con người và cảnh đẹp của tự nhiên hài hoà bên nhau và tôn nhau lên. Thuỷ Sơn là ngọn núi cao nhất trong 5 ngọn, có 3 tầng giống như sao Tam Thai trong chòm Đại Hùng Tinh nên còn được gọi là núi Tam Thai và cũng là nơi mà hang động của Ngũ Hành Sơn tập trung nhiều nhất. Lên đến chùa Tam Thai ở Thượng Thai ta phải trèo qua 156 bậc đá, cây cối um tùm dọc đường đi với biết bao loài hoa dại không tên tuổi… cảnh đẹp như trong các chuyện xưa tả về những nơi non xanh nước biếc của các bậc tu tiên. Chùa đã được xây dựng từ khoảng ít nhất là 300 năm trước và vua Minh Mạng trong một chuyến tuần du ra Ngũ Hành Sơn vào năm 1825 đã cho tu bổ lại nhiều. Nhưng chú hướng dẫn viên dẫn đoàn rẽ trái ngay, để ra thăm các chùa Từ Tâm, Tam Tâm và Vọng Giang Đài. Từ trên Vọng Giang Đài nhìn xuống, cả một vùng đồng ruộng rộng mênh mông của Quảng Nam Đà Nẵng và hai con sông Trường Giang, Cẩm Lệ uốn mình bao quanh được thu trọn trong tầm mắt. Cách không xa là hai ngọn Dương Hoả Sơn và Âm Hoả Sơn nép mình sau Mộc Sơn. Quay trở lại chùa Tam Thai, vào lễ xong, men theo một con đường đất phía sau là ta gặp một cổng vôi cổ kính không biết có tự bao giờ có ba chữ “Huyền Không Quan“. Thấy nói rằng toàn bộ tên của các hang động chùa chiền đây hay và đẹp như vậy là đều do Đức Minh Mạng đặt. Cảnh ngay cổng vào động Huyền Không đang mang một vẻ đẹp u tịch và huyền bí đúng như tên của nó. Trong cái bưu ảnh mua để làm kỷ niệm, ta thấy có cảnh ba cô gái áo dài trắng, cầm đèn lồng trước động Huyền Không sao mà đẹp thế, một cái đẹp phiêu diêu, hư ảo, không nắm bắt được, một cái đẹp đứng trên những tục luỵ của cõi trần thế này. Vào động Huyền Không có đường dẫn sâu xuống lòng đất. Động rộng và cao, trên trần có một lỗ thông thoáng khá lớn, ánh sáng theo đó mà tràn vào, mờ ảo êm dịu. Vách động lồi lõm, thạch nhũ chảy dài tạo nên những hình thù ký thú như hai đầu con voi có hai cái vòi dài thõng xuống, con cò đứng một chân… Trong động còn có một hõm mà khum tay vào vỗ sẽ kêu bum bum như tiếng trống cái. Katharina thích lắm cứ bắt chú hướng dẫn bấm đèn pin cho mình thử kỳ được mới thôi. Còn ở đầu kia của hang thì có một hốc nhỏ thôi và cứ chốc chốc lại nhỏ xuống hai giọt nước mà thiên hạ tranh nhau hứng để bôi lên đầu, xoa lên mặt lấy hên. Nhưng không ai được quên là trong lúc chờ nước rỏ xuống là mình ao ước gì phải có kêu cầu trong đầu thì mới nghiệm. Đường vào động Huyền Không cũng chính là đường vào động Hoa Nghiêm. Tên Hoa Nghiêm bởi ở động này có tượng Phật Bà Hoa Nghiêm đục vào trong vách đá không rõ từ thế kỷ nào chỉ biết là rất cổ. Dáng dấp Phật Bà thanh thoát, trang nghiêm, nét khắc tạc cực kỳ tinh tế, nhìn từng nếp áo còn thấy sống động cứ có cảm giác như Phật Bà vừa cầm bình phan đi cứu độ chúng sinh ở đâu mới về, vừa kịp đứng vào đó mà thôi. Sao những công trình điêu khắc tôn giáo thời nay không mấy khi được sự tinh vi có hồn ấy nữa. Vì sao nhỉ? Vì lòng người động hay bởi các niềm tin tôn giáo không còn là cứu cánh cho thế gian nữa ư? Các thứ chủ nghĩa thì không đủ sức thuyết phục…Trung Thai còn nhiều hang động lắm nhưng không thể nào xem hết trong một thời gian ngắn vậy nên lần bước xuống Hạ Thai thăm chùa Linh Ứng (chùa Tam Thai ở phía Nam và chùa Linh Ứng phía Đông hợp lại với nhau chính là chùa Non Nước Đà Nẵng vậy). Động Tàng Chơn nằm cách không xa chùa Linh Ứng. Truyền rằng chùa Linh Ứng chính là do một vị ẩn tu ở động Tàng Chơn lập ra từ TK 16. Trong chùa có bộ thập bát la hán rất quý, chạm trổ công phu bằng đá Ngũ Hành Sơn. Ở sân chùa Thu gặp một em chó baby yêu lắm. Tội nghiệp chắc chẳng ai săn sóc hay sao mà bị ghẻ xà mâu thương quá. Quấn quít Thu mãi không muốn rời, như muốn đòi đi theo Thu vậy nhưng làm sao mà theo được cùng cơ chứ. Mỗi lần phải đối mặt với khổ đau thế sự, dù là của người hay là của một con vật đi chăng nữa ta đều thấy thấm thía hơn cho sự bất lực của mình trong cuộc đời. Đến lúc xuống núi thì Thu hết hơi hoàn toàn rồi. Phải có Đông, Huyền Vân và Conni xốc nách mới xuống được đến nơi an toàn. Cảnh tượng thê thảm quá. Mới ngày nào còn phăm phăm leo trèo khắp nơi, vậy mà bây giờ…Tuy thế nhưng trong tay vẫn giữ chặt cành hoa ti gôn hái dọc đường để mang cho Hưởng vì cứ nghe phàn nàn là em chưa biết mặt mũi hoa ti gôn nó thế nào, hay là có nhìn thấy rồi mà không biết nó là ti gôn chị ạ. Nhưng xuống đến nơi thì trong tay Thu chỉ còn là cái cành với vài cái tay leo lằng nhằng, bao nhiêu hoa mà „Bảo rằng hoa giống như tim vỡ“ ấy đã rụng tiệt cả trên đường đi. Nên Thu đành „Cái gì của Ngũ Hành Sơn thì trả lại cho Ngũ Hành Sơn“ vậy. Thế là Hưởng cho đến giờ vẫn chưa biết được „Cánh hoa tan tác của biệt ly“ thế có khổ thân không cơ chứ! Theo sách tướng số đã dẫn thì những người hạnh phúc thường khó có cơ hội được biết loài hoa này em ạ. „Yên tâm vững bước mà đi“ nhé Hưởng. Còn động Âm Phủ thì trông có vẻ rờn rợn nên không thấy ai hào hứng vào. Mà chắc là bụng đứa nào cũng nghĩ trước sau sớm muộn gì rồi cũng xuống đó cả thôi chứ ai cho lên „trên trển“ đâu mà tham quan làm chi nên kéo nhau cả lũ ra uống nước mía và ăn tào phớ. Tào phớ lần này cũng sạch gánh còn quầy nước mía thì cô hàng cũng chỉ còn có vài cây để tiếp khách đến sau. Khiếp hãi cho nạn „giặc châu chấu “này. Lên xe, nếu có ai ngoảnh lại thì chắc thế nào cũng sẽ còn thấy ánh mắt thất thần dù rất vui của các cô bán hàng đấy nhỉ.

Xe đến Lăng Cô thì dừng lại để nghỉ ăn trưa. Nhà hàng nằm ở trên một dốc cao nhìn xuống bãi biển Lăng Cô tuyệt đẹp. Bãi cát dài trắng mịn, hàng dừa cao, lá vươn trên nền trời cao xanh thẳm, ngoài kia những con sóng bạc đầu chạy lô nhô như đang chơi trò đuổi bắt nhau. Thấy nói rằng Lăng Cô đã được công nhận là Vịnh Đẹp của thế giới (có nguồn thấy đề Vịnh Đẹp Nhất thế giới nhưng Thu biết sự hạn hẹp của kiến thức mình và sự tự hào khi „ở đáy giếng“ của một bộ phận lớn các tác giả những nguồn tin đó nên rất cẩn trọng, chỉ dám nhũn nhặn nhận rằng Vịnh Đẹp Thế giới thôi). Trước kia hàng năm đi công tác từ Sài Gòn ra Hà Nội, tất nhiên cán bộ như Thu ngày ấy là tiêu chuẩn chỉ được đi tàu hoả thôi. Ngày ấy đi tàu hoả mà vé nằm là vĩ đại lắm rồi. Sau thống nhất, trong những thập niên 70, 80 đúng lúc thời kỳ hậu chiến khi mà các mối viện trợ của các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hoà bình công lý trên thế giới đã hết, đất nước đói khổ khủng khiếp mà lại còn khốn khổ khốn nạn vì việc „Ngăn sông cấm chợ“ nữa nên việc bất cứ ai đi tàu Nam Bắc đều mong chờ ví dụ như đến ga Quảng Ngãi để ăn gà, đến ga Lăng Cô để ăn ghẹ, đến Tuy Hoà thì mua gạo rẻ… chẳng hạn vì so với HN, SG thì ở những nơi đó vừa ngon lại giá cả rất được. Ngày ấy, khi bụng của chính mình và cả nhà luôn luôn trong tình trạng réo gọi thì tâm hồn người ta khó bị „Non sông cẩm tú“ chi phối lắm. Là cán bộ lương bổng phọt phẹt nên rồi ai cũng phải nghĩ đến việc phải sống chứ. Nếu không có đủ điều kiện để được làm „người Việt gốc heo“ thì rán bánh rán, làm kẹo lạc bỏ mối cho những quán chè chén, dán phong bì, cuốn thuốc lá, nhặt đậu, nhặt lạc… Những việc ấy là đặc trưng cho những ngành hành chính, sự vụ, giáo dục như y tá, bác sỹ, giáo viên…hay các hàn lâm viện sĩ KHXH bởi sản phẩm của mấy anh này chủ yếu dành cho năm 3000 cơ vì tầm vĩ mô, chiến lược nó ghê lắm đấy là còn chưa kể đến việc họ thường xuyên phải bận rộn hội họp đấu đá nhau, chứ mấy anh bên Khoa Kỹ (KHKT) có vốn liếng khoa học cụ thể vào có khá hơn là ví dụ sản xuất phân bón cho nông dân, làm pháo để bán dịp Tết nhất hội hè hay đám cưới, hay chế tạo dấm bỏ cho mấy bà hàng dưa cà, hàng phở… chẳng hạn. Tuỳ theo ngành nghề chuyên môn của anh mà phát huy. Nên việc mang xoài, thuốc lá sợi…ra HN còn lại chở khoai tây, thuốc tây…- thậm chí có thời gian bồn toilette còn là mặt hàng hot từ HN – „oánh“ vào Nam là chuyện hoàn toàn bình thường, mà thuế quan thuế vụ thì lúc nào cũng như rươi. Trông mặt mũi người ngợm Thu thế nào mà từ những ngày ấy đã là mục tiêu bị khám xét liên tục rồi. Có lần được đi máy bay thì cũng bị kiểm tra ngay từ lúc trình vé. Còn có lần đi tàu nằm vào SG (vì Thu đi đâu cũng mang Tyty đi dù ngày ấy còn rất bé, phải mang cả chai ti đi cơ mà. Và cậu ruột Thu làm ở đường sắt nên thương cháu lắm, hầu như lần nào Thu cũng có vé nằm cả), mãi đến tận ga Mương Mán thì có mấy gã thuế vụ vào khám. Thu chìa công lệnh cán bộ Viện KHXH đi công tác thì thấy nét mặt các vị đi cùng toa dãn hết cả ra, tươi tắn bảo Thu thế mà chúng tôi cứ nghĩ chị là „dân chạy dọc“ cơ đấy. Không hiểu ý khen hay chê, trân trọng hay coi thường, khâm phục hay thất vọng vì ngày ấy sự phân cách giữa cán bộ và những người buôn bán vẫn còn vời vợi và tâm lý của xã hội khi ấy rất chéo ngoe. Nhìn những người nhanh nhẹn, tỉnh táo trong việc tự làm cho mình khỏi nghèo (chứ chưa đến mức làm giàu) bằng cách buôn đi bán lại, đem phân phối lại „từ chỗ thừa sang chỗ thiếu“ thì ghen tỵ vì mức sống của họ có nhỉnh hơn thậm chí còn ao ước được như họ nhưng lại có phần khinh miệt vì „Sĩ , nông, công, thương“ đã ăn sâu bám rễ dù hễ ai là người Việt cũng đều thuộc nằm lòng câu „Phi thương bất phú“. Khỉ thế đấy, con người quả là một thực thể vô cùng phức tạp và đầy mâu thuẫn! Còn việc đi tàu hoả Nam Bắc thì có nhiều kỷ niệm khủng khiếp lắm. Tỷ như một lần nào đó bỗng dưng đang chạy chẳng phải bến bãi gì, chẳng sự cố kỹ thuật gì (hay có mà không được thông báo), tàu dừng lại ở giữa một nơi đồng không mông quạnh gần cả ngày, không ai biết vì sao vì cũng chẳng ai thông báo gì là sẽ dừng bao lâu, bao giờ thì có thể đi được… rồi có lần sau khi ngồi gần cả tuần mới ra đến HN (vì không có vé nằm) lưng hai mẹ con bị rệp đốt vài ngày sau lột ra cả mảng như đi thẩm mỹ viện ngày nay vậy… Chuyện về việc “Đi dọc Việt Nam theo bánh con tàu quay“ thì nhiều chuyện lắm, kể không hết. Và cũng nhờ có những ngày ấy mà Thu biết đến „chân“ hạnh phúc. Ngày ấy, dù muốn hay không thì cán bộ cũng phải làm một cái gì đó để còn tồn tại chứ. Ví dụ như Thu mỗi lần đi công tác ra Bắc là cũng bị bắt (tự mình bắt mình hay còn gọi là hoàn cảnh bắt buộc) phải mang vài ký thuốc lá sợi để lấy lời chênh lệch. Lần nào cũng toát mồ hôi từ lúc chìa vé vào cửa ga cho đến tận khi xuống tàu. Tính thì dát mà vì cuộc sống bắt buộc phải làm, sợ lần nào cũng mất mật mỗi khi thấy ai lớ xớ nghi là phòng thuế. (May là ngày ấy còn trẻ khoẻ nên chưa có biểu hiện của huyết áp cao. Cũng có nghi vấn cho rằng việc Thu bị HA cao bây giờ chính là hệ quả những tháng ngày long đong trên tàu hoả Bắc Nam với khi thì thuốc lá sợi, khi thì xoài hay khoai tây, bột mỳ gì đó. Điều này rất có thể. Nghe hợp lý.) Thế nên có một lần nghe nói là tình hình ngặt nghèo lắm vì mới có chỉ thị thông tư mới gì đó, không ai dám buôn bán gì cả một thời gian dài, thế là Thu sướng quá vì coi như một lý do hoàn toàn chính đáng để không phải mang hàng lậu. Nên lần công tác đó sao mà hạnh phúc thế. Lòng phơi phới Thu đi qua cửa kiểm tra và cố tình nhìn vào tận mặt từng tay thuế vụ một cách khiêu khích mà chẳng ai „kiểm cha kiểm ông“ gì cả. Hạnh phúc vô biên khi lòng mình trong sáng. Đó có lẽ là lần duy nhất trong đời mà Thu được gần sát hạnh phúc nhất. Thanh sạch và vô tư. Nhiều khi hạnh phúc nó đơn giản vậy đó, cứ định nghĩa gì đâu cho nó phức tạp ra. Hạnh phúc nhiều khi chỉ là được ăn ngon, ngủ yên. Ngày ấy thì còn thêm vào khái niệm này là sẽ thật hạnh phúc nếu trong nhà còn có một thùng gạo, một ký đường, một lọ mỡ và có can dầu hoả đầy để đun bếp. Rất đơn giản. Và thường đơn giản thì hạnh phúc. Sự việc đơn giản bởi người nhìn nhận nó đơn giản. Thế thôi. Với ai cũng vậy, nhất là với đàn bà. Càng đơn giản càng hạnh phúc. Đã có ai thấy một người đàn bà tâm hồn thì phức tạp, tình cảm thì rối rắm, động tí thì vặn vẹo, chẻ sợi tóc ra làm tư, làm tám, lắm quan điểm, trích dẫn…mà lại hạnh phúc chưa? Cũng có nhưng mà hy hữu lắm. Bởi thế nên việc gì người ta chỉ nói phần đa mà thôi. Đấy là còn chưa kể đã như vậy mà lại còn mắc phải hai „căn bệnh“

„Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài

Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt“

mà đến ở đàn ông người ta dù ngợi ca nhưng vẫn „Kính nhi viễn chi“ thì ở đàn bà nó gây hãi hùng đến nhường nào. Đố ai tìm được trong lịch sử cổ kim hay trong đời thường quanh ta một „liệt nữ“ như vậy mà hạnh phúc!

Đoạn đường từ Lăng Cô trở đi là một trong những kỷ niệm rất đẹp của cả chuyến đi. Vui ơi là vui. Tố Vân, cây văn nghệ chính của đoàn thì đã đành ở đâu cũng là đầu tầu gương mẫu với bài tủ „Xin lỗi tình yêu“ rồi vì là một trong những fan ruột của Ms. Đàm. Hội Đức thì Conni, Elke, Susanne dưới sự bắt nhịp của Katharina cùng nhau đu đưa một bài dân ca đại ý là xe không bao giờ nên dừng và chở bà già hay ông già mà nên chở những thiếu nữ trẻ đẹp. Cái đề tài này về nguyên tắc mang tính toàn cầu và rất quốc tế, phi thời gian, không gian. Thế mới hay về tính „đại đồng và tiểu dị“ của sự việc và âm nhạc. „Đồng“ ở chỗ là hễ là đàn ông thì nói chung đều thích gái đẹp và trẻ (ai đó đã nói rằng, khi đàn ông 20 tuổi họ thích đàn bà tuổi 20, rồi đàn ông 40 cũng thích đàn bà 20 và dù khi đàn ông 60 hay 80, 100 gì đó thì cũng vẫn thích đàn bà 20. Nếu sau này mà khi khoa học có thành tựu về vấn đề kéo dài tuổi thọ thì kể cả khi 200 tuổi thì có lẽ họ cũng vẫn giữ nguyên quan điểm này như vậy. Thấy có nghiên cứu bảo đó là do sinh học nghĩa là gien về giới tính quyết định nên họ dù không muốn cũng muốn là vậy, cứ như phàm là đàn bà thì nói lắm và nói dai vậy thôi). Nếu bà nào có chồng nói không thích gái trẻ (con số 20 là một con số phiếm chỉ về cái sự trẻ chứ không nhất thiết phải đúng 20 mà có thể là 21, 22 hoặc 17, 18, 19 gì đó cũng được) thật chứ không phải chỉ nói là không thích đâu thì yêu cầu đi khám ngay để xác định giới tính bởi giới tính của ông nhà không nhất thiết phải nguyên xi như từ lúc lấy bà đâu nhé. Bây giờ trào lưu unisex nó chẳng chừa ai cả đâu. Còn nếu ông nào cứ khăng khăng rằng anh chỉ yêu em dù già và xấu, mấy con bé trẻ đẹp kia yêu cho mệt người thì một là nên đưa ông đi khám tâm thần ngay, còn hai- khả năng nhiều nhất- „Là thực ra anh đang nói liều và nói điêu“ đấy. Bởi vậy lâu nay ở hải ngoại cũng như quốc nội tình trạng

„Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Quân hận ngã sinh trì

Ngã hận quân sinh tảo“

rất phổ biến cùng việc „Mùa xuân ai đi hái hoa, còn cụ ông đi nuôi vợ đẻ“ là vậy. Nhưng mà tình yêu làm gì có biên giới nào. Trong đó bao gồm cả biên giới về tuổi tác. Về đề tài này Thu có thằng bạn mà từ lâu gã đã có ý định bỏ con „gà già“ ở nhà nhưng chưa có dịp, lại nghe bạn bè cảnh tỉnh việc rước mấy „mẹ ranh“ ấy về (nếu đã sang được đây nhưng vẫn chưa lo xong giấy tờ vì nhiều lý do ví dụ như không tìm được người để cưới, không đẻ được, không tìm được bố nhận con hay cụ thể hơn là không tìm được cả người để đẻ con với mình chẳng hạn) hoặc từ Đông dương sang (thì cũng từng ấy nỗi lo nhưng còn thêm chuyện có nhiều em „mộng không thành“ vì thấy các anh „Vật kiều“ bên này quá lam lũ khổ cực nên hành tỏi nằng nặc đòi về gây nên bao cảnh dở khóc dở cười), xong giấy tờ thì chắc chắn là nó „phắn“ để anh bỗng dưng thành „Gà trống thiến nuôi con“ hay lại phải „Đập cổ kính ra tìm lấy bóng“ thì rất mệt. Nhưng rất mất dạy gã nói rằng „Lo gì, mình đã có tuổi trẻ của em đó vài năm đã, rồi hạ hồi phân giải. Đời thiếu gì các em trẻ cần bán tuổi trẻ, thì mình mua. Sòng phẳng!“ Gã có cái lý của gã nhưng nghe ghê quá. Lại nhớ câu đại ý là những gì thuộc về con người đều không xa lạ đối vớí tôi  của một vĩ nhân nào đó không nhớ tên, chí ít là trong lúc này. Còn „dị“ là có thể do tình trạng tài chính kinh tế của chính đương sự hay đặc thù của giao thông, văn hoá quốc gia đó thì người đẹp sẽ được chở bằng mẹc xê đéc ở các nước giầu có, hay xe máy, xe đạp, xích lô hay túctúc như ở Việt Nam, Campuchia… chẳng hạn. Tóm lại bài hát này là nói lên „tiếng lòng“ của tuyệt đại đa số quý ông bất kể màu da, quốc tịch hay châu lục nào. Thu định dịch bài này ra tiếng Việt để tặng cho đàn ông Việt nhưng xét thấy không cần làm một việc thừa như vậy. Họ lại chả cười cho ấy chứ và bảo bằng từng ấy tuổi sao mà ngớ ngẩn thế, lại còn phải „Dạy vén váy“?… Rồi cả hội lại „Lòng ta hằng mong muốn và ước mơ…sabota unasch prastaia sabota nascha takaiai ..i cneg i vetscher …bauen wir unserer Heimat Glück…“, rồi „Chiều Matskva“, „Kachiusa“ „Kalinka“, những bài hát mà một thời thanh niên đều mong muốn đem cả sức lực mình cho „Sự nghiệp giải phóng loài người“ và xây dựng „Mùa xuân của nhân loại“, được hợp ca Đức- Việt trình diễn bằng cả ba ngôn ngữ, Việt, Đức, Nga vô cùng sôi nổi, nghĩa là ai nhớ đoạn nào bằng tiếng gì thì hát tiếng đó. Chỉ có mỗi Conni là „Wessi“ duy nhất nên không thuộc lời mà thôi. Còn Hiên mặc dù đầu đang có bao nhiêu „mẹo“ mà chưa nghĩ ra cách để hoá giải cũng đơn ca một bài. Lê vừa đang „Này, Mầu ơi, mày lên chùa từ bao giờ nhỉ“ thì bận xoè quạt cho khéo nên quên mất tiếp theo, thế là Vânchèo phải nhắc vở và cuối cùng thì cả hai song diễn. Cô Tường làm cả xe phải ngặt nghẽo về vụ „cụ ông, cụ bà“. Nga sau khi „đổ“„Tình anh bán chiếu“ thì độc ca vô cùng hăng hái làm cho cả xe sôi động lên về „Em ơi, 60 năm cuộc đời…“. Và hay nhất là Sáu với Kachiusa lời Việt hóm hỉnh, vui tươi đã chiếm toàn bộ cảm tình của mọi người và được xin chữ ký ghê lắm. Thế mới càng ngày càng khẳng định nhan sắc của đàn ông không phải là điều đầu tiên hấp dẫn phụ nữ đâu Sáu nhỉ. Thu đồ chừng rằng từ bây giờ, Sáu và Kachiusa sẽ vĩnh viễn trở thành huyền thoại của VINAPHUNU.

Lăng Cô- Huế quãng đường cũng không xa lắm, chắc đi hết độ hai tiếng thôi nên khoảng 3 giờ chiều đoàn đã đến Huế rồi. Thời gian buổi chiều còn lại không nhiều nên quyết định sẽ chỉ thăm được lăng vua Tự Đức và chùa Từ Hiếu là có lẽ đã tối mất rồi mà chương trình tối nay còn đi nghe ca Huế trên sông Hương nữa chứ. Nên Sáu cho xe chạy thẳng lăng vua Tự Đức để cả đoàn vào tham quan. Ở đây cô Tường và cả đoàn gặp phải chuyện bực mình vô cùng. Để mua vé cho cả đoàn cô Tường đã rút ra 2 tờ 5 trăm ngàn, vừa cúi xuống cất tiền vào túi thì cô bán vé kêu thiếu tiền, đòi đưa thêm 1 hay 2 trăm ngàn gì đó nữa vì cô ta bảo cô Tường mới đưa 1 tờ 5 trăm cho cô ta thôi. Tất cả có 6 tờ 5 trăm ngàn trong người giờ đưa ra 2 thì còn 4 tờ. Vậy nhưng cô bán vé kia cứ khăng khăng là chỉ đưa có 1 tờ 5 trăm ngàn thôi. Khốn nạn nhất là bị lừa ở cái nơi mà không ai nghĩ rằng có thể xảy ra bởi đấy là nhân viên bán vé nhà nước. Ai có trí tưởng tượng lắm cũng chỉ có thể nghĩ đến bị lừa ở chợ búa hay ngoài đường thôi chứ, ai lại dám nghĩ đến một nhân viên chắc chắn là của Sở Văn hoá hay Bảo tồn bảo tàng gì đó mà lại như vậy. Quá chán và quá bực mình. Tuy vậy sự bực mình đó cũng không làm trở ngại đến việc vào chiêm ngưỡng cảnh đẹp trong lăng. Lăng vua Tự Đức là một trong những lăng đẹp nhất trong các lăng tẩm triều Nguyễn ở VN bởi kiến trúc cầu kỳ và phong cảnh hữu tình được chính vua chuẩn định đồ án kiến trúc theo đúng sở nguyện của mình. Cả sân lớn rộng lát gạch Bát Tràng được những cây đại cổ thụ đầy hoa trắng bao quanh. Hồ Lưu Khiêm nguyên là một con suối nhỏ trong khu vực lăng, sau được đào rộng ra thành hồ để thả sen và theo phong thuỷ là để „tụ thuỷ“ thì „tích phúc“. Trên hồ còn có Xung Khiêm tạ và Dũ Khiêm tạ là nơi để vua ra ngồi chơi ngắm cảnh, thưởng hoa, câu cá, làm thơ… Là người có thể chất yếu đuối, bệnh tật lại không có người nối dõi dù rất nhiều vợ và cung tần mỹ nữ, vua Tự Đức đã cho xây dựng Vạn Niên Cơ, tên ban đầu, coi như là một hoàng cung thứ hai để lên đó tiêu khiển, nghỉ ngơi… với mong muốn về sự trường tồn vĩnh cửu. Thế nhưng sau loạn Chày Vôi mà người đứng đầu là anh em Đoàn Hữu Trưng, con rể của Tùng Thiện vương, thì được vua Tự Đức đổi thành Khiêm cung. Đến khi vua mất thì được gọi là Khiêm lăng. Trong 13 vua của triều Nguyễn thì vua Tự Đức là người uyên thâm nhất về nền học vấn Đông phương nhất là Nho học. Ông giỏi cả về sử, triết, văn học nghệ thuật, nhất là thơ. Trong thơ văn ông phản ánh rất rõ ông là con người nhân hậu, có tâm hồn đa cảm và một tư chất hâm mộ nghệ thuật. Tư chất này được bộc lộ rất rõ nét trong công trình kiến trúc Khiêm cung này. Về con người, ông là cả một khối mâu thuẫn giữa con người đế vương và con người nghệ sỹ. Ông đã để lại cho hậu thế một Khiêm cung – Khiêm lăng – mỹ lệ trong kiến trúc nhưng lại cũng chính là Vạn Niên Cơ với

„Vạn Niên là Vạn Niên nào

Thành xây xương lính hào đào máu dân“

khởi nguồn cho loạn Chày Vôi sau này. Dạo quanh lăng vua Tự Đức, ra sau Bi đình ta còn thấy tấm bia 20 tấn lớn nhất Việt Nam, trên đó khắc „Khiêm cung ký“, còn có Minh Khiêm đường mà được coi là nhà hát cổ nhất của VN… Nghe chú hướng dẫn viên giới thiệu xong, lòng ta cứ bùi ngùi cảm thương. Làm đến bậc đế vương mà cũng chẳng tránh được phiền não của cuộc đời, cũng chẳng thoát khỏi vòng sinh tử được (nhưng đằng nào cũng chẳng tránh được thì sao lại không nên có cuộc sống đế vương ở kiếp này nhỉ. Chân lý này như kiểu “Thà là giàu có, khoẻ mạnh, đẹp đẽ còn hơn là nghèo đói, ốm yếu, bệnh hoạn, xấu xí„ vậy). Chỉ có một điều là tuy phong cảnh hữu tình như thế, các công trình kiến trúc tráng lệ như thế nhưng không hiểu sao không ai nghĩ đến chuyện làm sạch hồ Lưu Khiêm chứ mùi ẩm thấp bùn đất thối rữa lưu cữu nồng nặc như thế này (đã đành là mùi của thời gian, hương của quá khứ nhưng không có nghĩa là nó phải bốc mùi lên đến như vậy) thì ngày xưa làm sao mà vua lại ngồi thưởng hoa, làm thơ được nhỉ. Hoặc giả có tứ thơ nào chợt nảy ra thì cũng bị thui chột ngay ấy chứ. Sao cơ quan nào quản lý trực tiếp mà không lưu ý việc này bởi khi đã thu tiền vé vào cửa thì phải nghĩ đến việc dùng tiền đó để tu bổ, bảo vệ, giữ gìn cho nó chứ.

Huế đã có thời được mệnh danh là thủ đô Phật giáo bởi trên mảnh đất nhỏ hẹp này có một số lượng chùa chiền nhiều nhất, hơn bất cứ một địa phương lớn nhỏ nào trên lãnh thổ Việt nam. Tuy nhiên số lượng hàng trăm ngôi chùa không làm cho người ta lưu ý bằng chính những gì liên quan đến nó. Chọn chùa Từ Hiếu trong hàng trăm ngôi chùa Huế để thăm đầu tiên bởi vì đó là ngôi chùa mà thầy Thích Từ Nhơn, trụ trì chùa Phổ Đà ở Berlin, một nhà tu hành mà vì công cuộc hoằng hoá phật sự có quan hệ thân thiết với VINAPHUNU, từ nhỏ đã tu ở đó. Chùa Từ Hiếu như ngôi nhà thuở ấu thơ của thầy vậy. Và chùa Từ Hiếu còn là nơi có mộ của các thái giám triều Nguyễn ngay chính trong khuôn viên chùa, còn xung quanh chùa thì rất nhiều mộ của các vị phi tần. Cách không xa là lăng mộ nguy nga của Tùng Thiện vương Miên Thẩm, nhà thơ hoàng tộc nổi tiếng mà được người cùng thời khen “Thơ đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường“. Xe không vào tận nơi vì Sáu sợ không có chỗ quay xe, nên cả hội đi bộ vào. Nằm sâu trong những đồi thông tĩnh mịch lá reo vi vu quanh năm, chùa Từ Hiếu nguyên thuỷ là An Dưỡng am do hoà thượng Thích Nhất Định xây năm 1843 để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già. Để cứu mẹ bị bệnh nặng mà thuốc thang không tài nào khỏi, do có người khuyên phải cho mẹ già ăn thịt cá mới có thể cứu được. Thế là bất chấp miệng lưỡi người đời đàm tiếu chê bai, ngài đã xuống chợ mua cá về nấu cháo cho mẹ ăn. Được biết tấm lòng hiếu thảo của ngài, Tự Đức vốn là vị vua rất có hiếu với mẹ đã ban sắc phong đổi tên thành Từ Hiếu tự. Từ đó chùa mang tên là chùa Từ Hiếu. Nhưng trong Đại Nam Nhất Thống chí thì có câu „…Trên nền cũ chùa xưa, trùng tu…“ chứng tỏ chùa Từ Hiếu đã có từ lâu. Năm 1848, các thái giám nghĩ khi mình tịch không có ai thờ tự nên xin nhà vua ban cấp tiền bạc tu sửa, rồi cùng nhau góp tiền mua đất xây dựng chùa Từ Hiếu thành ngôi chùa đồ sộ trang nghiêm và sau vài lần trùng tu nữa thì có quy mô như ngày nay. Phong cảnh chùa rất đẹp, tĩnh lặng và êm đềm. Qua cổng tam quan, có hồ thả sen, có khe nước bao quanh trước mặt chùa làm tăng thêm phần thơ mộng và tươi mát của ngôi cổ tự đồng thời là danh thắng lịch sử và văn hoá của Huế này. Chắc thấy một đoàn đông đúc vào thăm nên một vị sư thầy ra đón đoàn trò chuyện vui vẻ. Mọi người sau đó xin chụp ảnh với thầy để còn sang kể lại với thầy Từ Nhơn nữa chứ rồi vào chính điện tham quan và lễ Phật. Nhìn quang cảnh các chú tiểu tuổi từ 7,8 gì đó đến khoảng 13, 14 đang hăng say đá bóng trên sân chùa do một sư thầy huấn luyện lại nghĩ chắc tuổi thơ thầy Từ Nhơn cũng trôi qua êm đềm như vậy nơi chùa này, ngoài giờ kinh kệ giáo lý, làm việc ngoài vườn ruộng… thì chắc thầy cũng hồn nhiên chơi đùa như những chú tiểu thế kia. Rời chùa Từ Hiếu thì trời đã xâm xẩm tối rồi.

Xe chở cả đoàn về Huế và đến khách sạn, nhận phòng xong thì chỉ có nghỉ ngơi chút ít là có hướng dẫn viên dẫn mọi người ra ngoài bến sông để lên đò đi nghe hát. Ra đến bến thấy đã đông đúc vô cùng. Trong cái tranh tối tranh sáng, ca nương son phấn áo xống rợp một góc chờ xuống thuyền. Có người bảo rằng, đến Huế mà chưa được nghe ca Huế thì chưa gọi là đến Huế. Nhất là nghe ca Huế trên sông Hương. Ca Huế gồm nhiều thể loại như thính phòng, hò, lý, vè… Hành Vân, Tứ Đại Cảnh, Nam Bình, Phú Lục, Cổ bản… là những bản lớn tiêu biểu cho nhạc thính phòng Huế để xác định đẳng cấp, trình độ của ca nương cũng như nhạc công. Hò thì có hò Mái Nhì, hò Giã gạo… ngoài ra còn có các điệu lý hay hát chầu văn. Ca Huế là một thú chơi tao nhã ngày xưa của các bậc phong lưu tài tử. Buông thuyền trên sông tĩnh lặng, gió trăng thơ mộng nhàn nhã để thưởng thức những giọng hò Mái Nhì, Mái Đẩy… mênh mông, điệu Nam Bình, Nam Ai… vang lên sâu lắng, vời vợi…“ Thương hoài ngàn năm“. Cách đây chừng 6 chục năm, chàng Văn Cao ngày ấy bị xứ Huế hút hồn và đã để lại trong gia tài nghệ thuật của mình bài thơ „Một đêm đàn lạnh trên sông Huế“ là một tuyệt tác về đàn ca Huế, để mà rồi ai nhớ đến Huế cũng sẽ nhớ

“…Sao đàn u hoài gì mùa thu

Sao đàn u hoài gì mùa thu

Tương tư nghe thử dây đồng vọng

Lạc lõng đêm vàng nghe nhạc ru…“

và rồi để

„Em cạn lời thôi anh dứt nhạc

Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh

Một đêm đàn lạnh trên sông Huế

Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh“

Nhưng mấy ai bây giờ trong đám khách kia được là chàng Tư Mã Giang Châu xưa để tri âm tri kỷ „Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha“, để hiểu người, thương mình mà ướt đầm vạt áo xanh được. Rồi trong đám ca nhi nhạc công kia, mấy ai còn là người hiểu và tâm huyết với ca Huế nữa. Ngồi vào một góc, túm tụm, „buôn dưa lê“, mặt lạnh lùng, không có tí chút gì biểu cảm. Không gây được một chút xíu nào cảm tình của khách xuống thuyền nghe hát đêm nay, kể cả các bạn Đức, cho dù là họ không hiểu tí nào tiếng Việt. Trên thuyền cũng không còn ngồi trên chiếu vây quanh như năm nào Susanne, Bettina và Thu đã từng nghe. Thay vào đó là toàn ghế nhựa. Và ngay chính giữa thuyền, đối diện với nhạc công và các ca sĩ là một bàn bày bán những đồ sú vơ nia vớ vẩn như gà gỗ mổ thóc, xanh xanh đỏ đỏ gì đó…và một ôm hoa hồng đã héo rũ cả ra vì không biết đã bị quay vòng mấy lượt cho khách mua hoa để bao tiền thưởng vào tặng ca sĩ. Nét mặt các ca nương chỉ thực sự tươi lên khi thấy khách tặng hoa thưởng tiền. Vẫn biết rằng chúng ta chẳng ai là không bị trói buộc vào miếng cơm manh áo, chẳng ai lại không bị cái nợ mưu sinh nó ràng buộc. Nhưng khi đã theo những nghề phải tiếp xúc nhiều với con người mà đặc biệt là những nghề nghệ thuật thì ta phải có lòng yêu nghề ghê lắm, yêu nghệ thuật ghê gớm lắm chứ nếu không thì thô thiển quá, y như các ca nương đêm nay trên con thuyền này vậy. Một ấn tượng nữa chẳng đẹp tí nào về Huế nữa là khi đi lên bờ cả hội muốn đi bộ về hàng bánh bèo vì nó rất gần nên khi bao nhiêu xích lô xô vào chèo kéo mời mọc thì tất cả đều lịch sự, lắc đầu từ chối. Thế là khổ thân người hướng dẫn viên già của đoàn bị cả dọc bờ sông lúc đó, toàn những tay lái xích lô tre trẻ, cùng lắm thì là trung niên thôi chửi cho vuốt mặt không kịp chỉ vì một lỗi rất vô lý và ngược ngạo mà theo họ là không thể được là “Răng ông không nói cho họ chịu đi xe xích lô?“ Chịu, không thể hiểu được cái lý ấy! Im ỉm cúi đầu đi, cuối cùng rồi cả hội cũng thoát được khỏi vòng vây xâu xé của những tay nửa lái nửa du đãng kia và được dẫn vào một hẻm nhỏ, đến một quán bánh Huế mà theo lời người hướng dẫn thì rất ngon và nổi tiếng. Đến nơi, bà chủ có vẻ hơi sửng sốt vì đông quá và ăn như rồng bay gió cuốn. Thấy cả nhà họ, người thì nặn bánh, người thì luộc, người thì còn chấy tôm, xào nhân gì đó thế mà loáng một cái đã hết sạch chỗ bánh mà họ chuẩn bị. Cuối cùng thì bà chủ tuyên bố hết cả bột rồi, thậm chí cả lá gói nữa thì phải. Đang ăn ngon lại ngon trớn nữa thì tin này ngang với sét nổ ngang tai. Thế là cả hội điều đình với bà chủ chạy xe ra ngoài phố gọi giùm hàng trứng vịt lộn vào để giải quyết tiếp. Chắc bà chủ ấy khó mà quên được đoàn nữ „Vật Kiều“ này bởi cái sức ăn thể hiện cứ như là tuổi 17 cả mà mặt mũi thì toàn phải gấp ba lần con số đó. Mà có phải chỉ ăn không đâu, nói cũng vậy luôn. Ầm ĩ cụng ly, „dzo, dzo“ liên tục. Nhưng đừng ai tưởng là chỉ sôi nổi bề ngoài thôi đâu nhé. Những lúc cụng ly đó là để chúc sức khoẻ chồng con ở nhà và nhớ bạn bè thân quen không cùng „tiếu ngạo giang hồ“ được vì những lý do hết sức cá nhân như bệnh, như phải đi làm để có bảng lương đón chồng…chẳng hạn. Tối hôm nay, bữa bánh Huế này chính do Nhung, Thuỳ Vân và Ginga đãi mọi người đấy chứ. Dù không đi cùng được nhưng thực ra lòng các bạn luôn theo từng bước chân mọi người và đến bất cứ một chỗ nào vui hay đẹp Thu và tất cả đều nhắc giá mà có Mộng Lành, Nhung, Thuỳ Vân, chị Minh, Hưng, Hà Richter.. thì vui biết bao nhiêu. À, ở đây Thu mới thấy một bàn thờ thiên (ngoài trời) rất lạ là có nhiều tầng như kiểu chung cư vậy. Nghĩa là nhà anh và nhà tôi ngay cạnh nhau, chật đất quá hay là anh ở dưới tôi ở trên nên bàn thờ vì không có chỗ nên cũng làm như vậy theo, nghĩa là bàn thờ nhà anh ở dưới và của nhà tôi ở trên. Hay nhỉ. Đúng là đi một ngày đàng biết được thêm bao nhiêu là điều mới mẻ. Ăn xong thì ì ạch quá rồi nên cả hội rủ nhau ra đi dạo ở cầu Tràng Tiền (thế nhưng thực chất là định đi tìm hàng chè để ăn tiếp!). Tố Vân đau chân ở nhà. Heike, Conni, Katharina, Elke, Susanne, Bettina thì đang chết dí trong một quán cà phê vườn ngay cạnh hàng bánh rồi còn gì. Đi hết „Sáu vài mười hai nhịp, em theo không kịp tội lắm anh ơi…“ của cầu, sang đến bên kia thì cũng là lúc tay thợ chụp ảnh trên thuyền nghe ca Huế gọi để biết cả hội đang ở đâu cho hắn đến giao ảnh chụp thả hoa đăng ban nãy. Vì chụp trời tối nên ảnh không đẹp, nhưng mà thôi, để kỷ niệm một thời khắc mình đã có trong cuộc đời thì nếu đẹp thì tốt, còn nếu không ta đã được an ủi vì trọng trách mang tính lịch sử của nó vậy. Và quan trọng nhất là ta được tận hưởng cái cảm xúc lâng lâng giữa mênh mang trời nước và những mong ước gửi gắm vào những hoa đăng muôn màu đang lững lờ trên dòng Hương Giang trong đêm đen. Cầu Tràng Tiền trông như những chiếc lược của „trâm cài lược giắt“ xưa cài vào bầu trời vậy. Bên dưới là dòng Hương Giang nhẹ nhẹ trôi vô cùng thơ mộng. Ít ai biết rằng cùng với cầu Long Biên ở Hà Nội và Nhà Bưu điện Sài Gòn, cầu Tràng Tiền chính là công trình thứ 3 của Gustave Eiffel ở Việt Nam. Thu đã từng đến Huế vào hè, hoa phượng nở đầy bên cầu, đẹp vô cùng, đã từng đến Huế vào mùa xuân, khi tiết trời còn lạnh, những cành cây khẳng khiu trơ trụi lá, và cây cầu xám bạc trên nền trời xam xám, dưới cầu nước chảy trong veo lững lờ trôi…cảnh đẹp đến nao lòng. Có ai đến Huế mà lại không nhớ đến hai câu thơ tuyệt hay của Nguyễn Trọng Tạo

„…Sông Hương hoá rượu ta đến uống

Ta tỉnh, đền đài ngả nghiêng say…“

Nhưng bây giờ, cầu từ khoảng chục năm nay lại thắp sáng đèn mầu vào buổi tối. Cứ vài phút lại đổi màu một lần, trông rất long lanh rực rỡ và rất nhiều người thích nhưng không hiểu sao Thu rất dị ứng với văn hoá đèn màu này. Kinh nhất là hầu hết các hang động ở VN nào cũng loè loè loẹt loẹt, xanh đỏ tím vàng, không thiếu một màu nào. Vào thăm từ hang to cho đến động nhỏ đều cứ tưởng mình không ở trong động của Bạch Cốt Tinh thì cũng trong hang Kim Thánh Công chúa hay trong thuỷ cung của Đông Hải Long Vương phim Tây du ký cả vậy. Thành phố về đêm cũng vậy. Đến Buôn Mê Thuột trên rừng hay Nha Trang dưới biển cứ đêm đến là các loại đèn màu trưng hết công suất, ở khắp mọi nơi trong thành phố mà đặc biệt là các trung tâm nhất là khi có dịp lễ lạt gì đó kỷ niệm như tết nhất, hội thơ, 35 năm giải phóng… chẳng hạn. Và nó không phải là cái thứ ánh sáng huyền ảo, lung linh của những đêm Hội An hút hồn du khách.

Tà tà dạo bộ về đến khách sạn trời cũng đã khuya (ai đau chân nhảy lên taxi về trước). Chia tay nhau về phòng để rồi thao thức một đêm Huế với một tình cảm rất khó phân định rạch ròi. Huế trong ký ức, trong thơ ca, văn học, nghệ thuật… có đúng là Huế ta gặp hôm nay không nhỉ.

12/3

Vì hôm nay là ngày đi tham quan Huế rồi đi ra Bắc luôn, không quay lại khách sạn nên mới sáng ra, trước khi khởi hành là mọi người phải mang hết đồ đạc va ly xuống để check out hết rồi ai đi đâu ăn uống gì đó thì tranh thủ nhanh thôi. Hẻm này toàn là khách sạn, từ rất xịn đến vừa vừa, rất đông khách. Sáng ra gặp tây, ta đủ cả. Chắc cũng bởi nhiều khách nên việc ăn sáng không khó khăn gì, chỉ ra khỏi hẻm là các quán ăn đủ kiểu, đủ món Á Âu sang hèn hợp miệng và vừa túi tiền với nhiều thực khách khác nhau. Ngay đầu hẻm cạnh cột đèn có một gánh cơm hến trông cũng sạch sẽ, ngon lành. Thế là kệ mọi người đang còn hì hục kéo đồ đạc ra, Thu và Hiện nhét được va ly mình vào gầm xe xong là tót ra kéo cái ghế đòn dõng dạc kêu hai tô cơm hến. Món cơm hến này là một món ăn bình dân nhưng rất nổi tiếng của Huế. Thông thường các món ăn của Việt Nam ta đã ăn với cơm thì phải là cơm nóng. Nhưng riêng món này cơm lại phải nguội. Hến luộc xong phải xào với thịt ba chỉ và măng khô, nước hến luộc phải đập thêm miếng gừng vào cho thơm. Cái cầu kỳ là ở chỗ xào nước màu phải đủ chục vị gồm ớt tương, ớt màu, ruốc sống, bánh tráng nướng bóp vụn, muối rang, hạt đậu phộng rang mỡ đập rập rập, mè rang, da heo rang giòn, tóp mỡ, vị tinh. Vậy nên khi bỏ rau thơm, bạc hà, hoa chuối, bắp chuối xắt thật mỏng vô bát cơm, trên đổ hến xào rồi cho hỗn hợp nước màu, bóp bánh tráng vụn lên trên, đậu phộng, mè… rồi nhìn bà hàng dùng cái muôi nhỏ xíu rưới từng muỗng nước hến trắng đùng đục như sữa lên trên là toàn thân ta đã run rẩy, bao nhiêu dây thần kinh vị giác được huy động hết… „Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ“, lòng nhủ lòng nhiều mà không lần nào có dịp nên mãi hôm nay Thu mới ăn lại món này. Vì sao lại bảo là ăn lại vì có lẽ lần cuối cùng thì cũng đã cách đây hơn 4 chục năm rồi, đó là những năm tháng ở sơ tán. Mỗi phiên chợ, mẹ Thu toàn mua cả gánh hến về rồi luộc lên và khi nước sôi là những cái miệng hến bé xíu hé mở xoè ra trong như một cái nơ con con, mẹ Thu đổ ra và ngồi đãi, vỏ ra vỏ, thịt ra thịt. Mẹ Thu đãi khéo lắm đến mức mà bác chủ nhà cứ thắc mắc là sao cô giáo dạy đến tận cấp 4 (tức là dạy Đại học ấy vì bác chỉ biết là sau cấp 3 thì ắt phải là cấp 4 thôi) mà lại biết cả dần, sàng, sẩy…cứ nhoay nhoáy như nông dân thực thụ vậy. Hoá ra là hồi đi tản cư, đi học, ra trường đi dạy mẹ Thu cũng phải làm cùng với bà con nông dân. Mà phải tập mà làm chứ. Vì thời đầu là lý tưởng, muốn „dứt khoát“ với giai cấp của mình. Còn thời cải cách ruộng đất mà lòi ra gốc con nhà quan lại thì liệu có sống sót được không, chỉ riêng mỗi cái tên của anh Thu cũng đã bị các ông bà đội „hành tỏi“ mãi rồi mặc dù mẹ Thu đã hỏi rằng sao không ai ý kiến gì việc những nhà có con tên Thành hay Quốc hay Công vì Hồ Chủ tịch còn có những tên đó nữa cơ mà? Nhưng ai mà nói laị với lý của các „ông bà đội“. Nhiều khi cả hai sảo hến chất ngất vậy mà rồi cuối cùng nhiều lắm chỉ được bát ô tô thôi. Thế là mẹ làm món cơm hến hay là hến xào xúc bánh tráng vì bố Thu rất thích ăn, vừa ăn vừa xuýt xoa vì đã cay rồi mà bố còn cắn thêm miếng ớt xanh no bóng, thơm nồng. À, còn món hến thuôn hành răm nữa cũng rất ngon mà mẹ thỉnh thoảng cũng thay đổi mỗi khi nhà mua hến ăn. Món này lại vị Bắc hoàn toàn. Nhắc đến hến là cả một trời kỷ niệm của những tháng ngày thơ ấu hạnh phúc.

Vì là xe quá to nên Sáu với Kim phải cho xe đỗ hơi xa và mọi người đi bộ vào tham quan Đại Nội đầu tiên. Đại Nội chính là tên gọi chung cho cả Hoàng thành và Tử Cấm thành. Tử Cấm thành là vòng thành trong cùng bảo vệ nơi ở của vua và hoàng hậu phi tần. Còn Hoàng thành là vòng thành thứ hai bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và Tử Cấm thành. Hoàng thành để bao bọc cả trăm công trình lâu đài, cung điện, miếu mạo… nên mỗi chiều dài khoảng 600 m, cao 4 m và dày 1 m. Phía bên ngoài Hoàng thành có hào nước bao quanh bảo vệ. Tất cả các cầu hay hồ nước ở đây đều được gọi là Kim Thuỷ. Ngọ môn là cổng chính của Hoàng thành, xoay về hướng Nam. Ngọ môn theo nghĩa đen là cổng „chính Ngọ“, giữa trưa, hay còn là cổng quay về hướng Ngọ mà theo Dịch học thì cũng chính là hướng của vua chúa. Lần lượt theo các hướng Đông, Tây, Bắc là các cửa Hiển Nhơn, Chương Đức và Hoà Bình nhưng vì ít thời gian du khách thường tham quan chủ yếu là Ngọ môn. Ngọ môn xưa kia chính là nơi làm lễ duyệt binh hay lễ Truyền Lô, là nơi các quan tân khoa mới được xướng tên tuổi hay lễ Ban Sóc là lễ Ban Lịch Tân Niên. Đối diện với Ngọ môn, cách không xa là kỳ đài Huế với lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Đứng trên Ngọ môn, nhìn bao quát xung quanh thấy hàng phượng vĩ chưa đến mùa cho hoa nên cành lá xum xuê xanh um, nổi bật cùng màu đỏ gạch của Hoàng thành. Mỗi khi có làn gió nhẹ đưa, những cánh lá nhỏ li ti rắc lên vai lên cổ khách bộ hành tạo một cảm giác mơn man vô cùng dễ chịu. Dạo bước trên cầu Trung Đạo nhìn xuống hồ Thái Dịch ta thấy bao nhiêu là cá vàng đang bơi lội tung tăng bên những khóm hoa súng hé nở. Miền Trung sao nhiều hoa đại thế nhỉ. Trên Ngũ Hành Sơn đâu đâu ta cũng thấy. Ở lăng vua Tự Đức cũng vậy mà ở quanh hồ Thái Dịch này cũng thế. Những cây đại trông thì khẳng khiu, gầy guộc, hầu như không thấy một cái lá nào vậy mà hoa đầy trĩu trên cành. Những bông hoa trắng, nhuỵ phớt vàng vàng đem đến mùi hương ngọt ngào âm thầm, không sỗ sàng hay nồng gắt mà dai dẳng nhớ đến là lâu. Bước qua sân Đại Triều Nghi lát toàn bằng đá Thanh mà hai bên đầu sân còn có hai con kỳ lân biểu tượng của thái bình và quyền uy là ta bước vào điện Thái Hoà. Điện Thái Hoà xưa kia là nơi biểu trưng quyền lực của Hoàng Triều Nguyễn, là trung tâm của đất nước, là nơi vua thiết triều hàng tháng hai lần vào ngày mồng một và ngày mười lăm âm lịch, là nơi vua tiếp sứ thần các nước, nơi làm lễ Đăng quang, lễ Sinh nhật Vua … Tóm lại những sự kiện trọng đại triều chính thì đều được cử hành tại đây. Những lần thiết triều, vua ngồi uy nghiêm trên ngai vàng trong điện Thái Hoà mà xung quanh chỉ có Hoàng thân quốc thích và các quan tứ trụ mà thôi, còn các quan khác từ nhất phẩm cho đến cửu phẩm có mặt đông đủ đứng xếp hàng theo thứ bậc ngoài sân Đại Triều, quan văn bên trái, quan võ bên phải. Điện được xây dựng rất đẹp theo lối „trùng lương trùng thiềm “ là hai mái trên một nền, tạo cho điện có dáng thanh thoát mà vẫn uy nghi, vương giả. Các cột lim trong điện đều được sơn son thiếp vàng trang trí rồng vờn mây. Là biểu tượng của quyền uy vua chúa nên rồng với rất nhiều tư thế khác nhau như „lưỡng long chầu nhật“ hay „hồi long“…được trang trí trên mái điện mà dù đứng hướng nào ta cũng có thể chiêm ngưỡng được, dù ta đứng từ Tử Cấm thành nhìn ra hay từ Ngọ môn nhìn vào. Loay hoay thế nào lại đã thấy Tố Vân trở thành hoàng hậu từ lúc nào. Conni và Lê vội vàng tranh thủ chụp ảnh chung với „hoàng hậu“ để kỷ niệm. Còn thấy cả hai cô gái Nhật Bản hay Hàn Quốc gì đó cũng xúng xính áo bào leo lên ngai, rồi cờ rồi lọng…mặt mũi cố làm ra vẻ đoan trang, uy nghiêm chụp ảnh kỷ niệm. Chắc mấy cô đó cũng nghĩ có khi nào bỗng dưng mình trở thành hoàng hậu Nam Triều thế này? Đại Trung môn là cửa chính của Tử Cấm thành. Bắt đầu từ đây là khu vực mà xưa kia chỉ để cho vua và hoàng hậu, cung phi mới được bước chân vào. Nhưng không vào mà rẽ sang phải ta ghé điện Phụng Tiên – nằm ở gần Chương Đức môn là cửa ở phía Tây, trước cung Diên Thọ là nơi ở của hoàng thái hậu (thân mẫu của vua) – là nơi thờ cúng các vị vua và hoàng hậu triều Nguyễn nhưng khác với Thế miếu là nữ giới ở đây được phép vào làm lễ cúng tế. Giờ điện chỉ còn là một nền đất với vòng thành bao bọc. Xuyên qua những ngự viên u tịch và trầm mặc. Còn đâu cảnh ngựa xe lộng lẫy huy hoàng đế vương? Qua Hưng miếu thờ thân phụ thân mẫu vua Gia Long là đến Thế miếu thờ các vị vua triều Nguyễn. Ở đây tuyệt đối nữ giới không được bước chân vào kể cả hoàng hậu. Và cũng không hiểu sao chỉ có bài vị của mười vị còn của vua Dục Đức, Hiệp Hoà và Bảo Đại vẫn chưa thấy được thờ nơi đây. Là vị vua thứ năm và thứ sáu của triều Nguyễn, vua Dục Đức lên ngôi được có ba ngày thì bị truất ngôi, tống giam và bị bỏ đói cho đến chết còn vua Hiệp Hoà thì bị ép phải làm vua để rồi sau lại bị bức tử. Đã đành vua Bảo Đại là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ chuyên chế này và mãi sau này mới mất mà lại mất ở nước ngoài sau một thời gian lưu vong rất dài. Nhưng sao sau khi ông mất rồi, mà ông mất cũng đã hơn mười năm (1997), chẳng còn ai nghĩ đến việc này. Công tội đã có lịch sử phán xét. „Rằng tài nên trọng mà tình nên thương“. Ông là vị vua cuối cùng của Việt Nam và bài vị ông phải được đưa vào Thế miếu để thờ tự. Đó là một điều nên làm và đáng làm. Đối diện với Thế miếu là Cửu đỉnh với Hiển Lâm các. Cửu đỉnh là chín đỉnh ứng với từng vị vua của nhà Nguyễn mà trên đó được chạm khắc hình non sông, cảnh đẹp, sản vật của vùng miền đất nước với ước mong vững bền trường tồn. Hiển Lâm các được coi là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích của các vua nhà Nguyễn và của các quan đại thần có công lớn của triều đại. Được xây dựng bằng gỗ, Hiển Lâm các là công trình không những cao nhất, mà còn rất đẹp và độc đáo của hoàng thành. Rời Hiển Lâm các cả đoàn men theo dọc bên trong Hoàng thành để về lại Ngọ môn đi ra. Các thợ chụp ảnh đã đón chờ ở đó để giao ảnh cho mình. Bây giờ cả hội rút kinh nghiệm rồi. Đến danh lam thắng cảnh nào đó là giao phắt trọng trách chụp bức ảnh của cả đoàn cho họ cho nó đẹp và bảo đảm. Còn ảnh tư liệu thì ai nấy tha hồ chụp. Tuỳ thích. Cả quần thể di tích cố đô Huế này mà thực sự đi ngắm nghía kỹ càng thì có khi cả ngày không hết bởi riêng trong Tử Cấm thành là cả đoàn hôm nay hoàn toàn không thể ghé được. Còn biết bao cung, điện, đền, đài, lầu, các, miếu mạo còn chưa đặt chân đến cho dù phần lớn đã trở thành phế tích. Một vài điện, miếu đã xem chẳng qua chỉ là „cưỡi ngựa“ ở một góc rất nhỏ của cả một quần thể lớn. Nhưng rồi đây, những con đường cây cao bóng cả u tịch trầm mặc, những sân trải gạch Bát Tràng bát ngát, những thềm đá Thanh mát lạnh, những mái ngói hoàng lưu ly, thanh lưu ly lấp lánh dưới ánh mặt trời, những mái điện „trùng thiềm điệp ốc“ đặc trưng của các công trình trong Đại Nội Huế này, vừa uy nghi toát ra sức mạnh của vương quyền, vừa thanh thoát, mềm mại với rồng bay phượng múa, những bức hoạ trang trí nội thất luôn có một bài thơ đi kèm theo đúng phong cách „nhất thi nhất hoạ“… chắc chắn sẽ làm ta day dứt nhớ nhung khôn nguôi. Những ngày xưa huy hoàng nay còn đâu. Ngày xưa nơi mình đang đứng đây đã một thời ngựa xe, một thời vàng son quá khứ lộng lẫy với biết bao nước mắt của các cung nữ mà

„Lưu thuỷ hà thái cấp

Cung trung tận nhật nhàn

Ân cần tạ hồng diệp

Hảo khứ đáo nhân gian“

với cùng bao âm mưu soán quyền đoạt ngôi, huynh đệ tương tàn „Cẳng đậu đun hạt đậu“… Vậy mà giờ đây cũng chỉ còn lại

“…Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…“

mà thôi. Mới hay cuộc đời thật vô thường! Lên xe mà lòng còn vương vấn mãi, day dứt mãi bởi cái đẹp của quá khứ ám ảnh, bởi sự phù vân của đời người…

Theo truyền thuyết xưa, chúa Nguyễn Hoàng nhân đi du ngoạn thấy nơi đây phong cảnh đẹp, thế đất phong thuỷ thì như đầu rồng ngoái nhìn về phía núi mẹ nhưng ngay dưới chân núi lại thấy một đoạn hào cắt ngang. Hỏi thì được đáp là núi rất thiêng và bị Cao Biền đời Đường yểm vì khí núi vượng. Người dân kể rằng ban đêm hay thấy một bà lão đầu tóc bạc phơ mặc áo đỏ, quần xanh ngồi chơi ở đỉnh gò mà nói rồi đây sẽ có chân chúa đến đây xây chùa thờ Phật, làm tụ linh khí, bền long mạch, làm mạnh cho nước Nam, giúp dân, giúp nước. Nên từ đó gọi là Thiên Mụ Sơn. Phù hợp với lòng dân bấy giờ, chúa Nguyễn Hoàng tự cho mình là chân chúa, cả mừng cho xây dựng chùa năm 1601 và gọi là Thiên Mụ tự. Đây có thể gọi là ngôi chùa cổ nhất xứ Huế. Với tháp Phước Duyên cao 7 tầng như vút vào trời xanh, soi bóng xuống dòng Hương Giang lững lờ trôi đã tạo thêm cho Huế vẻ đẹp hiếm có nhất là khi ta đang thả thuyền trên sông. Từ bến sông bước lên 24 bậc tam cấp mà những cành lá phượng xanh mướt xoè tán như chào đón, ta bước qua Nghi môn, tới đình Hương Nguyện mà bây giờ cũng chỉ còn nền đất là tới tháp Phước Duyên, lùi ra sau một chút là lầu chứa Đại Hồng Chung được dựng từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Một không khí nhẹ nhõm, thoáng đãng, chầm chậm trong một màu xanh tươi mát, hoa lá khắp nơi, đây đó một tiếng chim gù gù gọi nhau, một vài cánh chuồn chuồn chao lượn mơ màng, từ trên cao nhìn xuống dòng Hương Giang thơ mộng êm đềm có vài con thuyền đang xuôi dòng. Lang thang khắp chùa từ đằng sau ra đằng trước, nói chuyện với một vài chú điệu tóc để một chỏm đang thích thú nhai những quả mít non. Các chú đều có vẻ rất rụt rè khi được hỏi chuyện. Lần nào đến thăm Thiên Mụ, Thu cũng đều rất thích ra chùa sau ngắm nghía vườn sân sau. Bao nhiêu là cây cảnh, hoa cỏ thơm ngát trồng tỉa chăm bón kỳ công. Những chậu kiểng đặt trên sân gạch mà nhiều nơi đã lõm những dấu mòn thời gian. Còn có hòn non bộ là của Đào Tấn là ông tổ của tuồng VN. Đi qua một gara thấy một xe hơi cũ ở đó. Ít ai biết được lai lịch của chiếc xe hơi này là của hoà thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi ngài tự thiêu năm 1963 ở Sài Gòn để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp phật tử. Vườn thông xa xa, phong cảnh tịch mịch, u nhàn, tận cuối vườn có mộ của hoà thượng Thích Đôn Hậu là trụ trì chùa và là người có công tu bổ chùa để Thiên Mụ ngày càng phong quang và có một diện mạo diễm lệ như ngày nay. Thiên Mụ tự quả là một danh thắng của đất Thần Kinh như vua Thiệu Trị đã từng ban tặng. Xuống đến trước Nghi môn, cả hội lại vội vàng sà vào hàng tào phớ và luôn tự hỏi nhau sao cái vị béo thơm ngậy của từng lát tào phớ với nước đường nóng hổi dậy mùi gừng lại luôn luôn quyến rũ đến như vậy. Cả gánh hết veo, Thu mải quay tư liệu, nên cô Tường phải nhường Thu một chén. „Trâu chậm“, à, „voi chậm“ khổ thế đấy. Hiện nghe đâu mặc cả thế nào mua được cho Kiều My cái túi khoác đẹp mà giá „mềm“ lắm.

Thế rồi xe bon ra chợ Đông Ba nhưng trước đó có dừng ở một hàng mua sản vật của Huế nổi tiếng là kẹo mè xửng, mắm tôm chua…mọi người mua nhiều lắm, ai cũng tranh thủ vì mấy khi được mua chính tại Huế những đặc sản của Huế này. Vào đến chợ Đông Ba, cả hội vội vàng đi tìm hàng ăn vì cũng đã đói đói rồi. Ba hàng ăn có các món tương tự ở ngay cạnh nhau thế là cả hội ùa vào, thế nào vì cứ theo nhau ngồi nên cuối cùng chỉ có hai hàng là có khách, còn một hàng chỉ có mình Ngọc ngồi thế là bà chủ đó cong cớn xéo xiên sau khi rù quến mãi không được thêm khách. Thậm chí bà ta còn vác cả ghế lên xếp lại, mặc kệ cho khách khứa còn ngồi đó cả. Thái độ „con mẻ“ gây bất bình không chỉ cho khách là mình và xung quanh mà còn chính những người bạn hàng quanh đó lên tiếng góp ý. Đầu tiên thì họ góp ý cũng vừa phải thôi, nhưng sau không những không nghe mà bà ta còn chửi càn lại. Thế là hỗn chiến, tất nhiên là mới dừng ở khẩu chiến thôi vì bà ta cũng tự thấy yếu thế và mình cư xử không đàng hoàng. Qua cuộc cãi vã thì nghe ra hình như bà này đã có „tiền án tiền sự“ về những vụ tương tự như thế này rồi, chắc cũng không phải lần đầu bà này dằn hắt với khách khi bất như ý, nên khi chị em bán hàng láng giềng có lương tâm nghề nghiệp hơn sợ ảnh hưởng mới phải ý kiến đó thôi. Quân ta thì thấy hãi qúa, té hết, kệ cho hội đó làm thịt nhau. Dạo chơi trong chợ, Hưởng mua được mấy cái nón về làm quà cho u. Mỗi người mua vài thứ hoa quả để lên xe ăn cho chuyến tối đường xa nữa. Trong lúc ngồi chơi uống nước chờ nhau ngoài chợ, thấy cô bé bán hàng giải khát duyên dáng và nhẹ nhõm, Thu ướm thử lời thủ thỉ hỏi cô rằng sao có bà hung dữ quá, điều mà chưa gặp ở chợ nào từ Nam chí Bắc. Ghê gớm quá lắm cũng chỉ lườm nguýt, xỏ xiên, nặng nhẹ vậy vậy thôi chứ trận chiến thư hùng như ban nãy thì „giang hồ“ (chỉ là với ý đi lại nhiều mà thôi, không có ý tứ gì khác hơn đâu nhé bởi

„Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà“

ấy mà) như Thu cũng chưa từng gặp. Nhẹ nhàng cô bảo rằng có lẽ đó là người ngoại tỉnh vô đó. Thu lại nghĩ đến Hà Nội với lượng dân tứ xứ khắp nơi đổ về. Không hiểu tại sao người Hà Nội cũng có xu hướng này, khi có một việc gì đó mà đại ý là không hay ho gì là người ta có thể lạnh lùng đổ tuốt cho người ngoại tỉnh. Ví dụ như việc tranh nhau cướp hoa ở hội hoa đầu năm nay chẳng hạn. Thu cứ nghĩ là cảnh người ngoại tỉnh họ ăn nhờ ở đậu hay nay thuê nhà này mai thuê nhà khác thì với tâm lý sống như vậy họ làm sao mà còn thích hoa hoét đến thế để cướp và tranh giành nhau như vậy. Ừ cứ cho là người ngoại tỉnh là nguyên nhân chủ yếu của những việc lộn xộn đó đi thì Sài Gòn cũng là một đô thị rất lớn, thậm chí lớn nhất VN, lượng dân tứ xứ đổ về cũng nhiều, thậm chí ngang ngửa HN nếu không muốn nói là nhiều hơn. Tại sao ở SG chưa bao giờ có chuyện như vậy? Chưa bao giờ người dân ở SG lại phải vừa phiền lòng vừa xấu hổ như những việc ở HN mà báo chí đăng tải đã quá nhiều về những sự kiện như kiểu ba cây hoa anh đào của Nhật Bản mang sang dự lễ hội hoa anh đào bị vặt trụi, lần sau cũng không khá hơn bao nhiêu, rồi lễ hội hoa Tết năm ngoái, năm nay đều bị trộm cắp, tranh cướp, giằng xé…tan tành cả. Vậy thì nguyên nhân ở đâu? Xu hướng di dân từ nông thôn ra đô thị là một xu hướng rất phổ biến, đâu có phải chỉ có ở mỗi Việt Nam chúng ta đâu. Đã đành là người ngoại tỉnh họ từ nơi khác về tất nhiên sẽ kéo theo những điều bất cập như tình trạng giao thông, vệ sinh, công ăn việc làm, an ninh… Nhưng những việc đó phải được đề cập, tìm phương cách giải quyết từ phía nhà nước là chính chứ. Mà xét cho cùng về mặt con người, ai chẳng muốn có và có quyền tìm một cuộc sống tốt hơn cho mình. Đất Hà Nội xưa nay là đất kẻ chợ. Nhưng dĩ nhiên là đất lề quê thói. Mình phải làm sao cho người ngoại tỉnh khi họ đến HN họ sẽ thấy cái ưu việt văn hoá của HN mà làm giàu thêm cho HN về những thói quen tập tục đẹp sau khi đã „gạn đục khơi trong“ chứ. Nhưng việc cô bán hàng chợ Đông Ba này có giọng ngọt như ru dễ thương ấy trả lời như vậy cũng là dễ hiểu thôi. Phàm là con người ta thì việc bất như ý hay lỗi lầm gì đó đổ cho người khác là đơn giản nhất, dễ chịu nhất đối với mình. Tiện nhất.

Xe lại chạy lên hướng lăng vua Khải Định. Diện tích lăng này không lớn như những lăng khác nhung rất công phu và tốn kém. Thấy nói rằng vua còn cho người sang Pháp để mua sắt thép, xi măng, ngói Androi… sang Trung Hoa, Nhật Bản để mua sứ, thuỷ tinh màu về xây lăng. Và nghe đâu trên chục năm với biết bao thợ lành nghề, nghệ nhân nổi tiếng mới hoàn thành được. Lăng vua Khải Định mang đậm dấu ấn của buổi giao thời văn hoá Đông Tây và tính cách của chính nhà vua. Bao nhiêu phong cách trường phái kiến trúc là hầu như có ở đây cả. Như trụ cổng hình tháp thì ảnh hưởng kiến trúc Ấn Độ, trụ thì lại biểu dạng của Phật đài (Stupa), hàng rào khẳng khiu như cây thánh giá, còn nhà bia và những cột bát giác và vòm cửa thì lối Roman biến thể… Có cái gì đấy độc đáo, lạc lõng nhưng nhìn chung đều tuyệt đẹp và cực kỳ tinh xảo. Nhất là khi ta chiêm ngưỡng ba bức bích hoạ „Cửu long ẩn vân“ khổng lồ trên trần cung Thiên Định của nghệ nhân Phan Văn Tánh hay những hoạ tiết trang trí, những bộ tứ bình, bát bửu, ngũ phúc…trên tường của cung đều do ghép những mảnh sứ sành, thuỷ tinh màu, lộng lẫy vô cùng. Ở chính giữa cung là tượng vua Khải Định được đúc từ Pháp mang về, bửu tán che trên đầu, bên dưới là mộ phần của ngài. Đằng sau là vầng mặt trời đang lặn, tượng trưng cho cái chết của nhà vua. Nhưng không hiểu sao mỗi lần vào thăm lăng này Thu đều liên tưởng đến những cái giường rẻ quạt mà mậu dịch bán cho (hình như phải có giấy đăng ký kết hôn thì phải) thời bao cấp. Hầu như đến nhà ai cũng có một cái (nếu có giường). Ngày ấy mọi sự đều đồng loạt. Trên bàn tay trái ngón thứ tư của các vị đã có gia đình là cái nhẫn đốt trúc được mua khi cưới. Mậu dịch bán loại vải màu mận chín hay xanh hoà bình chẳng hạn là bất cứ ngõ ngách nào ở HN ta cũng thấy những tà áo mận chín hay xanh hoà bình. Có đôi chút khác biệt là có thể cổ áo của chị lá sen nằm còn của tôi lá sen đứng… Mâm cơm nhà nào cũng su hào, rau muống, cà bát… tuỳ vào hôm đó chen lấn mua được thứ gì…Thời đó qua đã lâu mà sao nó cứ đeo đẳng theo ta mãi trong từng giấc ngủ, miếng ăn, kể cả những phút giây mà cuộc sống đã được nâng cấp thế này bởi đi du lịch là một điều xưa kia vô cùng hiếm hoi trong cuộc sống miền Bắc. Nắng chang chang nên cả hội đứng chụp ảnh trước sân với hai hàng tượng quan văn quan võ chầu lăng mà mặt mũi nhăn nhó, chẳng nhìn thấy gì vì chói quá. Nhưng mà ai đến Ứng lăng này mà lại không chụp ảnh ở sân với hàng tượng chầu hai bên tả hữu thì còn gì là đi thăm lăng vua Khải Định thế nên là ai cũng phải gắng hết. Susanne và Thu cả hai ra chụp ảnh, ôm đúng tượng mà mười một năm trước bộ ba Bettina, Susanne và Thu đã từng đứng chụp để kỷ niệm và để rất nhớ Bettina không đi được cùng vì lý do gia đình mà đến giờ chót đã phải huỷ bỏ. Xuống đến chỗ xe chờ thì mát mẻ hơn. Leo được lên xe có máy điều hoà là nhẹ nhõm cả người dù là không ít người về việc cứ lên lên xuống xuống, ra ra vào vào xe máy lạnh, và ngoài trời nắng gắt mà phát bệnh. Cũng may cả đoàn hình như toàn là dân du mục cả thì phải. Cho đến giờ chưa thấy ai ốm đau trầm trọng gì. Tất nhiên là tinh thần quyết định khá nhiều, vui vẻ với bạn bè, háo hức, hồ hởi trước những miền đất xa lạ… đã làm vơi đi nhiều những yếu tố „chuẩn bị ốm“.

Đến lăng vua Minh Mạng thì trời thấy cũng đã xế chiều. Là nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch tạo nên dòng Hương Giang mơ mộng yêu kiều của Huế, Hiếu Sơn là nơi được vua Minh Mạng- vị vua thứ hai của triều Nguyễn và được đánh giá là vị vua anh minh nhất nhà Nguyễn- chọn làm nơi xây dựng Hiếu lăng cho mình một mai khi về với tổ tiên. Trước sân chầu cũng là hai hàng tượng quan văn, võ đứng chầu. Ở mỗi đầu sân có hai con nghê tượng trưng cho hoà bình. Những đồi thông tịch mịch gió reo vi vu quanh năm, những cây đại cổ thụ hoa trắng nhẹ nhàng thả đầy sân mà „Đáo địa nhất vô thanh“, những thảm cỏ xanh mượt, những con đường uốn lượn quanh quanh, hồ Tân Nguyệt, Trừng Minh nước trong veo gợn sóng lăn tăn, đây đó những khóm hoa sen, hoa súng khoe sắc càng làm tăng vẻ mỹ lệ, Minh lâu, Nghênh Phong các, Điếu Ngư đình…, sân lát gạch Bát Tràng mênh mông, gió vời vợi…Cổng chính là Đại Hồng môn chỉ được mở một lần khi đưa thi hài vua nhập lăng và vĩnh viễn khép lại. Để vào lăng, người ta đi qua Tả Hồng môn và Hữu Hồng môn. Lần cuối cùng Thu vào thăm lăng cũng đã gần chục năm trôi qua. Bây giờ khắp nơi đều được tu bổ lại, sơn son thếp vàng. Cái vẻ u tịch đã nhường chỗ dần cho vàng son lộng lẫy trở lại. Đây là một công trình lăng tẩm đẹp vào bậc nhất của VN bởi sự uy nghiêm tráng lệ trong kiến trúc, sự hài hoà diễm lệ của thiên nhiên và đặc biệt mang tính tư tưởng cao với những quan niệm về triết học Đông phương. Tà tà thơ thẩn chiêm ngưỡng Bi đình ghi lại cho hậu thế công đức của ngài, qua Minh lâu, đứng trước hồ Tân Nguyệt thoang thoảng hương thơm nhẹ nhàng của những cây đại trổ đầy bông, hay của những bông sen tinh khiết trong trắng dưới hồ kia…Cảm xúc u nhàn, siêu thoát và vô biên chế ngự ta đến từng hơi thở. Ra khỏi lăng, khỏi La thành bao quanh lăng, là ta rơi vào một thực tế hoàn toàn không mấy dễ chịu. Cả dọc đường ra đến chỗ để xe là cả đoạn đường phía bên tiếp xúc với nhà dân bị rào lại. Có lẽ vì du khách bị đeo bám nhiều, nên người ta cho rào phắt lại để khỏi bị ảnh hưởng. Tuy thế nhưng vẫn có rất nhiều trẻ con trèo với qua hàng rào chìa trái cây, đồ sú vơ nia ra bán hay chèo kéo xin tiền. Và không phải đứa trẻ nào trông cũng khốn khó đâu. Có mấy đứa bé kéo nhau ra xin tiền mua giấy bút đi học, ăn mặc tươm tất sạch sẽ. Dù rằng chúng nì nèo, ỉ ôi để cho tiền nhưng lạ là trong ánh mắt chúng, ta không nhìn thấy sự khẩn thiết, không một mảy may nào sự dễ thương thường có ở con trẻ. Mà đó là những ánh mắt đã trơ lỳ, không có tự trọng và không có cảm xúc. Kể cả cảm xúc của sự biết ơn khi ai đó rất nhẹ nhàng tặng chúng một món quà hoặc tiền. Khi tiếp xúc với những đứa trẻ này ta chỉ có cảm giác chúng xin tiền như một thói quen chứ không phải vì hoàn cảnh hay nhu cầu cấp bách gì. Không biết khi lớn lên những đứa trẻ này sẽ trở thành những con người như thế nào nhỉ khi mà lòng tự trọng đã bị bào mòn đến vậy, từ bé. Lẩn thẩn Thu cứ nghĩ ngợi mãi về chuyện này. Ra đến bến đậu xe lại càng bị đeo theo kinh khủng. Chỉ mãi đến khi Katharina say sưa đứng bên xe bus kéo đàn thì mới không thấy bu lại nữa. Ở đây có một quầy bưu điện nhỏ và vài hàng quán lẹt xẹt. Viết xong vài cái thiệp cho cả hội ký tên để định gửi về Đức, sờ đến thùng bỏ thư thì thấy không khoá, long tóc gáy cả rồi, ai muốn mở ra sập vào thoải mái, còn cái chòi bưu điện đã đóng cửa, cô nhân viên đó hết giờ làm việc đã về. Thế là đành phải mang mấy cái thiệp theo vậy, để dọc đường thấy thùng thư thì bỏ, ngụ ý để cho nó vẫn còn trên đất Huế, đóng dấu BĐ của Huế. Rời khỏi lăng, khi trời đã nhập nhoạng tối thì xe đi qua một vùng thôn quê nào đó của Huế, Thu phát hiện ra một thùng thư bên đường, nhảy xuống bỏ hết thiệp vào rồi xe đi tiếp ngay vì đêm nay sẽ là đêm thứ hai của ngủ trên xe chuyến hành trình xuyên Nam Bắc, sẽ đi thâu đêm và từ gìơ đến sáng mai còn vài địa chỉ với những cuộc gặp gỡ đang chờ đợi. Tất cả đều đã có trong chương trình của chuyến đi. Lên kế hoạch như vậy và sẽ thực hiện như vậy. Đó là phong cách của VINAPHUNU.

Trời tối hẳn, sau mấy lần quanh co hỏi thăm đường xá thì bus rẽ vào một lối mòn, đi dọc theo một con kênh thì phải. Vì tối quá, lại chẳng có đèn đuốc gì nên khi xe đỗ lại thì mới thấy đó là một bãi trống, lổn nhổn như một công trường đang xây dựng ở giữa một nơi đồng không mông quạnh. Từ trong cái quán ăn lợp tạm bốn bề gần như trống huếch ấy mọi người ra đón đoàn. Đó là anh chị Hường và các cháu, thông gia của em trai cô Tường. Anh chị cũng còn trẻ, chất phác, dễ mến. Các cháu rất ngoan, đứa còn học phổ thông, đứa thì sinh viên học đại học đều phụ giúp cha mẹ bán hàng và tiếp khách rất dễ thương. Cả nhà lo cuống lên vì thấy đoàn đến dù cô Tường đã báo. Bếp củi phừng phừng, chốc là nồi nào nồi nấy sôi sùng sục cả. Thế là cả hội xông vào, gà luộc, thịt heo luộc vớt vội vớt vàng ra còn đang nóng rẫy lên thái chặt ầm ĩ như tại nhà mình, bàn ghế tự sắp xếp. Loáng một cái, ăn uống ồn ào là xong. Cô Tường còn giới thiệu là chị Hường hát hay lắm, thế là cây nhà lá vườn, rất tự nhiên, chị đứng giữa nhà, mọi người vây quanh nghe chị hát.“Ôi Huế của ta, ôi Huế tự hào… về Huế yêu thương“. Nhìn chị nhỏ bé, lam lũ, lầm lũi ít ai nghĩ chị lại có duyên thế trong khi hát, giọng hát mượt mà, trong trẻo và rất có hồn. Không hiểu sao nhìn chị, Thu cứ nghĩ đến mấy câu thơ của Tố Hữu „Mười cô gái Huế trận Vân Dương…mà tầm vóc rộng đất quê hương“ mà tự hỏi mình liệu chị có phải cùng lứa với những cô gái Vân Dương thời đó không? Có phải đây mới thật là những người phụ nữ Huế vĩ đại của đời thường, những người phụ nữ lao động bình thường, giản dị, một đời vì chồng con, nuôi con ăn học đàng hoàng dạy dỗ chúng nên người. Trên báo chí thỉnh thoảng có đăng tải những tin tức như vậy nhưng trong đời thường còn có biết bao nhiêu những bà mẹ đi mót rác, buôn thúng bán bưng còm cõi suốt năm này sang tháng khác để nuôi các con ăn học thành tài. Lòng yêu thương và hy sinh vô bờ bến của người mẹ không có một công trình nghệ thuật, âm nhạc hay văn học nào có thể vinh danh đủ. Chỉ có tượng đài trong lòng con cái họ là có ý nghĩa và thực sự đáng ghi nhớ nhất mà thôi. Xe chuyển bánh chạy rồi mà vẫn thấy anh chị và các cháu trong cái tối lù mù của ánh đèn điện đỏ quạch hắt ra, và của trời đêm lờ mờ sao giữa nơi không một bóng người này đứng vẫy mãi. Cuộc chia ly nào cũng cảm động nhưng sẽ còn cảm động hơn nữa nếu ta biết rằng có lẽ trên đời này ta sẽ không còn có dịp gặp lại nhau nữa.

Trên xe Thu và Hưởng điện thoại với cô Liên và chú Tiến mấy lần để cô chú biết khoảng thời gian cả đoàn đến. Hẹn với cô chú là khoảng 9 giờ tối sẽ đến Đông Hà nhưng mà rồi cũng phải 10 giờ mới đến được. Vừa đến đầu Đông Hà đã thấy „đồng chí“ Liên đội „nồi cơm điện“ do Trung- em trai của ThuỷVịnh- chở mẹ đến. Rất nhanh nhẹn cô lên xe và hướng dẫn xe vào đến tận gần nhà. Nhưng chỗ đường đó lại một chiều và khó tìm được chỗ đỗ nên cuối cùng Sáu và Kim phải ở lại ngoài bùng binh đó và rồi cô Liên và mấy người mang đồ ăn ra tiếp tế. Thế là cả hội dẫn diệu đi bộ vào nhà cô chú. Hai vợ chồng Trung và bé cháu trông ngoan và dễ thương lắm cùng cô chú ra đón đoàn. Ối giời ôi, nhìn cái nồi nấu bánh chưng cô nấu cháo gà và hai thùng cạc tông bánh bột lọc cô chú chuẩn bị đãi đoàn thì ai không biết chắc hãi hùng lắm. Thế mà, một tí thôi khi Thu ra bếp thì chỉ còn thấy đáy nồi, giỏi lắm vét ra thì còn độ hai tô là cùng. Mỗi người một tô cháo đầy thịt như là cô chú sợ mọi người thiếu chất ấy chứ. Đấy là còn chưa kể đến chỗ bánh bột lọc trên bàn „quất“ cũng gần hết. Vậy mà trong nhà vẫn còn một thùng to nữa. Mấy đứa lúc cô bảo mang đi để ăn nữa thì còn vờ vịt kêu nhiều quá, mang thế thôi cô ạ nhưng tay vẫn đang mở túi cho to hơn để cô trút bánh vào cho dễ. Cô thì cả buổi cứ bồn chồn, mừng quá đi đi lại lại tiếp đồ ăn trông yêu lắm. Chú ngồi trò chuyện với cả hội suốt. Chú kể về Quảng Trị, về mỗi tấc đất đều thấm bom đạn và xương máu như thế nào. Nhắc đến Quảng Trị ai cũng nhớ đến 81 ngày đêm đỏ lửa của mùa hè năm 72. Đây là trận đánh mà cả hai bên- Quân Giải phóng miền Nam VN và Quân lực VN Cộng hoà- đều bị tổn thất nặng nề. Cho đến bây giờ vẫn tìm được những bức thư di vật của nhiều chiến sỹ bị hy sinh tại đây, khi mà cuộc chiến đã kết thúc 35 năm. Rồi chú kể rằng từ khi về hưu đến giờ chú có làm thành viên danh dự và hoạt động cho một tổ chức khuyến học cho những em học sinh nghèo của Đông Hà. Nga với tư cách phó đoàn và trưởng ban phụ huynh của CLB đã quyết định đóng góp cho quỹ với danh nghĩa là các bạn của các lớp tiếng Việt CLB tặng quỹ khuyến học chuyển cho các bạn học sinh Đông Hà còn đang gặp khó khăn, giúp đỡ học tập. Thế rồi Katharina biểu diễn tặng cô chú và các bạn. Mọi người thưởng thức tiếng đàn điêu luyện của nghệ sỹ violine đã một thời trong giàn nhạc giao hưởng của Rudolstadt. Chú ngồi đó, mái tóc bồng bềnh, thưởng thức với niềm đắm say đặc biệt mà ta chỉ thấy ở những người có một tâm hồn nghệ sỹ thực thụ. Cám ơn Katharina, người bạn chung thuỷ và chân thành, một thành viên tích cực của ASIATICUS – VINAPHUNU, người bằng tài nghệ của mình với cây đàn violine quen thuộc đã đem đến niềm vui cho mọi người trong suốt cuộc hành trình khi nói lên cảm xúc của mình trước cảnh non thanh nước biếc, và cũng đã thay mặt mọi người qua tiếng đàn violine gửi những lời chúc tụng hay cảm ơn đặc biệt tặng những tấm lòng của bằng hữu, gia đình…Có Katharina với những buổi trình diễn cùng cây đàn violine, chuyến đi của chúng ta như được lung linh lên nhiều, mang một màu sắc khác, một âm hưởng khác, không hoàn toàn chỉ còn là một chuyến du lịch bình thường như bất cứ một cuộc du lịch nào. Lưu luyến mãi mới chào cô chú và hai vợ chồng em Trung để xe rời bánh. Cô chú chắc buồn và nhớ Thuỷ Vịnh Xíu Nhím lắm đó. Cả đoàn đến nơi ầm ĩ ồn ào vậy nhưng chắc cô chú cũng vui, nên khi cả hội đi rồi nhà là vắng lặng hẳn đi đấy và cô chú cũng sẽ nhớ bọn cháu phải không cô. Nhưng mà hợp nào rồi cũng tan chứ cô chú nhỉ. Mình sẽ lại gặp nhau ở CLB ở Berlin mà. Cô hứa với bọn cháu rồi đó nhé cô.

Chỉ khoảng hơn hai chục cây số là ra đến vĩ tuyến 17, lằn ranh đã chia cắt dân tộc VN trong suốt hai thập kỷ. Vĩ tuyến 17 Bắc nằm dọc theo sông Bến Hải, QuảngTrị làm phân định giới tuyến quân sự Bắc Nam sau khi Hiệp định Giơneve được ký kết chuẩn bị cho tổng tuyển cử 1956. Năm 1954 xuống tàu tập kết ra miền Bắc đã không biết bao chàng trai cô gái giơ hai ngón tay hẹn hai năm là ngày về. Vậy mà mãi hai mươi năm sau lời hẹn của họ mới có thể thực hiện được. Khi đó, với biết bao người tuổi thanh xuân của họ đã trôi qua cùng năm tháng. Gặp lại nhau với biết bao bi kịch, bao nhiêu sự trớ trêu của thời gian cùng hoàn cảnh để lại, khi đó

„Vợ thì bỏm bẻm nhai trầu

Chồng thì chống gậy vuốt râu mỉm cười“

rồi. Thu chợt nhớ lại. Giữa những năm 60, khi mà khắp mọi nơi, xí nghiệp, cơ quan, nhà máy, trường học, tổ dân phố… đều có những cuộc họp hành liên miên để củng cố niềm tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và vào sự đoàn tụ, thì việc một đồng nghiệp của mẹ Thu ở trường ĐH Y khoa lại phát biểu rằng “Vâng thống nhất thì thống nhất thôi, nhưng tôi sợ khi đó thì vợ thì bỏm bẻm…mỉm cười“ tại một trong những cuộc họp như thế thì việc bao nhiêu hệ luỵ đổ lên đầu vị này khủng khiếp thế nào là chuyện dễ hiểu. Không biết rồi kết cục ra sao. Có những chuyện của những năm tháng đó nếu ta muốn soi rọi bằng đôi mắt của hôm nay thì có lẽ sẽ chẳng bao giờ ta có thể hiểu nổi được. Chỉ cách một con sông mà vời vợi nghìn trùng. Có rất nhiều phụ nữ hay người dân ở bờ Nam đã hàng ngày đứng ngó về bờ Bắc trông ngóng người thân của mình nhưng cũng có những chuyện cười ra nước mắt là có người từ bờ Bắc muốn vượt tuyến vào lại miền Nam, muốn cho dễ dàng thì phải vượt sông vào đêm tối mưa gió đầy trời, lặn ngụp mãi khi nhoi lên được thấy vào đến bờ thì mừng quá vội vàng hô “Ngô Tổng thống muôn năm“. Ai ngờ đó chỉ là cái doi đất vẫn bên phía bờ Bắc. Thế là khổ nạn hàng bao nhiêu năm trời hết trại cải tạo này đến nhà tù kia. Bởi vậy nên vĩ tuyến 17 còn có thể gọi là „Bức tường Berlin“ của VN là vậy. Và cột cờ giới tuyến ở bờ bắc Bến Hải đã được xây dựng trong thời gian này. Để chứng tỏ chủ quyền, lá cờ đỏ sao vàng của chúng ta luôn luôn phải được hào hùng tung bay trong gió nhưng lại thường xuyên bị bên bờ Nam bắn rách, nên đã có những người phụ nữ vô cùng anh dũng trong mưa bom bão đạn ngồi vá lại cờ sao cho nhanh nhất để nó phải luôn được oai nghiêm phấp phới trên kỳ đài. Dù từ nhà cô chú Liên Tiến ra đến cầu Hiền Lương sông Bến Hải này không xa, nhưng đến nơi được thì cũng đã gần nửa đêm rồi. Mà lại tối mù. Sáu cho xe vào tận sát chân kỳ đài rồi mà vẫn chưa ai nhận ra bởi tối quá. Cả hội xuống xe rồi mà vẫn không thể thấy gì. Thế là phải hô Sáu bật đèn pha lên cho mọi người nhìn ngó địa điểm lịch sử này. Thu và Elke leo lên tuốt tận trên kỳ đài, nhìn thấy mờ mờ dòng chữ „Cột cờ giới tuyến“. Những năm tháng chia cắt đó, ngoài bài hát „Bên ven bờ Hiền Lương“ rất nổi tiếng nhờ giai điệu ngọt ngào, mượt mà, trữ tình thì ở lứa tuổi của Thu, không ai là không nhớ vai o Dịu do Trà Giang, Trần Sùng do Lâm Tới, Vệ do Đoàn Dũng… đóng trong cuốn phim „Vĩ tuyến 17- Ngày và đêm“cũng rất nổi tiếng- đó là một trong rất ít những bộ phim của điện ảnh cách mạng thật sự có giá trị nghệ thuật. Ngày ấy, phim ảnh hiếm hoi lắm và nghệ sỹ thế hệ đó là những nghệ sỹ đích thực, sống chết với nghề và vô cùng nghiêm túc trong nghệ thuật. Sau này, phim ảnh ra đều đều, nhiều cả số lượng phim lẫn ra lò các diễn viên với những lời ca tụng tán tụng lên tận mây xanh nhưng còn đâu những bộ phim thật sự là những tác phẩm điện ảnh như „Con chim vành khuyên“, „Chị Tư Hậu“, „Vĩ tuyến 17- Ngày và đêm“.“Cánh đồng hoang“… nữa.

Xe chạy trong đêm sâu. Chắc khoảng „giờ Tý canh ba“ thì đến được thị xã Đồng Hới. Đã gọi điện trước cho Cu T nên có chỉ dẫn đường cũng dễ dàng hơn nhiều. Cu T là phạm nhân cũ trong một thời gian dài của Elke và mới được thả về hôm trước Tết thôi. Cháu là một người hiền lành, tính tình nhã nhặn, biết nghĩ. Thế nhưng vì nghiện nên sinh tật và thường xuyên phải vào tù, làm khổ chị H vô cùng. Là một người vô cùng yêu con, lo cho con, vất vả vì con đến khổ sở vậy mà đã bao lần, bao nhiêu biện pháp mà cháu vẫn không thể nào cai được. Nhiều khi ngồi nghe chị tâm sự, thương vô cùng. Cái khổ, cái nhục của nhà có người bị nghiện nó khủng khiếp lắm, chẳng thể nào thấu hết, cảm thông hết được. Với lại phàm là nhà có người nghiện thì gia đình sẽ là người bị lên án đầu tiên. Điều đó rất đúng. Nhưng nếu chỉ lên án thôi thì có giải quyết hết các vấn đề đâu. Mà với tình trạng nghiện ngập như bây giờ ở VN thì giải quyết thế nào khi vấn đề này đã trở thành quốc nạn? Bây giờ mà cháu về VN còn dễ bị cám dỗ hơn nữa. Do tình cờ dì của cháu thì Thu lại quen từ những năm đầu thập niên 90. Đó là một người phụ nữ nhan sắc cực kỳ mặn mà, sắc sảo, tính tình nồng nhiệt, vui tươi hồ hởi…chí ít là trong trí nhớ của Thu như vậy. Đã lâu lắm rồi không gặp lại vì Q về VN. Thỉnh thoảng Thu hỏi thăm qua những người quen biết về tin tức của Q thì biết Q làm ăn cũng chẳng dễ dàng gì, lại đi Mỹ rồi lại về VN…Gặp lại Q bây giờ vẫn đẹp nhưng hình như thăng trầm của cuộc đời đã làm Q không còn cái sức sống hừng hực như ngày xưa nữa, chán nản và mệt mỏi là ấn tượng khi gặp lại Q. Cũng phải thôi, 17, 18 năm rồi còn gì. Thời gian có sức huỷ diệt ghê gớm mà mấy ai cưỡng lại nổi. Nửa đêm nên hầu như mọi người đều còn đang ngủ. Để tạo ngạc nhiên cho Elke nên đến khi xe đỗ trước cửa và Cu T ra đón vào nhà, Thu mới gọi Elke dậy. Không thể nào tả hết sự ngạc nhiên của Elke cho cuộc gặp gỡ này. Bởi cái chiều mùa đông cuối tuần mà Elke được tin báo gấp là Cu T sáng sớm đầu tuần sẽ bị áp giải ra sân bay thì chào hỏi chia tay xong có bao giờ Elke lại nghĩ mình sẽ gặp lại. Mà lại gặp tại chính nhà Cu T ở VN này? Cu T vẫn gầy thế. Cháu mừng lắm. Cứ cuống quýt pha trà, mời bánh kẹo các cô trong đoàn (sau đó thì các cô cũng mắt nhắm mắt mở xuống gần hết vào chơi, chỉ còn vài người ở lại trên xe thôi). Trò chuyện cũng chỉ được một lúc thôi là đã phải nghĩ đến đoạn lên đường ngay cho kịp kế hoạch hành trình. Chụp ảnh kỷ niệm với hai dì cháu xong thì cả đoàn lại tất tưởi lên xe nhằm hướng Bắc mà thẳng tiến. Nhìn thấy Cu T đứng vẫy mãi mà lòng Thu cứ bùi ngùi bởi Thu biết chắc trong lòng cháu đang nhớ mẹ và nhớ nước Đức. Và chắc chắn có ân hận. Dù thời gian có ít, quãng đường khá diệu vợi nhưng Thu vẫn muốn cùng mọi người đến nhà thăm cháu để cháu cảm thấy bớt cô đơn, để có thể những tình cảm thiện lành này sẽ nâng đỡ cháu trong những giây phút khó khăn trong cuộc đời.

13/3

Đêm đen thăm thẳm, quãng đường trước mặt thăm thẳm. Để „uỷ lạo tinh thần“ chỉ có mỗi Thu thức chuyện trò cùng với Sáu hoặc với Kim. Mọi người ngon giấc cả. Xe cô Tường đã lo xa nên thuê hẳn xe to, gần như là mỗi người hai ghế, nên rất thoải mái và tiện lợi. Tuy vậy khi Sáu hay Kim thay nhau ngủ đỡ thì chỉ có một cái ghế nhựa để ngồi gà gật ngay trên cạnh tay lái thôi. Thu cứ nói xuống dưới ngồi đi cho dễ chịu, còn ghế đấy nhưng cả Sáu và Kim chắc là ngại nên không chịu xuống. Vì có hẹn với NXP và NMH ở Nghệ An nên các em sốt ruột, cứ chốc lại gọi hỏi xem xe đến đâu rồi hả chị? P và H là hai phạm nhân trọng án mà Thu rất hay vào thăm khi hai em còn ở tạm giam mà thời gian tạm giam của các em rất dài vì sự phức tạp của những vụ án đó. Sau đó thì thỉnh thoảng mới gặp lại vì Thu ít lên làm việc trên nhà tù thụ án. Vài năm, nếu Tết nhất không lên thăm được thì Thu và VINAPHUNU có gửi bánh chưng hay quà cáp vào. Có lần vào thăm các em, rất cảm động là các em còn chuẩn bị rán cả nem, nấu xôi, rồi lại đàn hát… nữa. P về đã được khoảng hai năm. Còn H thì lễ Khai Hạ năm ngoái Thu và chị Thuý còn vào trong tù thăm và liên hoan cùng. Thu hẹn với các em là sẽ ghé thăm nếu chị về phép và đi qua quê bọn em. Những ai đã từng ở nước Đức trong những năm tháng đầu thập kỷ 90 thì mới thấy được hết sự tàn bạo của việc cạnh tranh buôn bán những mặt hàng cấm như thuốc lá. Không biết bao nhiêu người Việt đã trôi nổi và bị cuốn vào vòng xoáy đó và rồi không biết bao nhiêu mạng người đã phải trả giá cho sự cám dỗ của đồng tiền. Nhưng nếu không phải là người Việt thì khó lòng mà lý giải được vì sao có nhiều người lại có thể đánh đổi cả mạng sống, cả sự tự do của mình cho những cái lợi đã làm mờ mắt như vậy. Nhưng thực ra đại bộ phận phạm tội vì thiếu hiểu biết về pháp luật cũng như về xã hội, cùng với lòng tham lợi song hành. Những vụ án lớn ngày ấy còn để lại sự hãi hùng trong tâm trí người dân cả Việt lẫn Đức cho đến tận bây giờ. Trong bao năm trời làm việc trong tù, Thu luôn nghĩ rằng mình không bao giờ có thể đồng tình với những tội ác cũng như những việc làm phạm pháp được, nhưng mỗi phạm nhân là một trường hợp độc lập, một cá thể riêng biệt, một con người cá nhân và chỉ có sự quan tâm, cảm thông giữa con người với con người mới có thể chạm tới những góc khuất tối tăm nhất của tâm hồn và mới có thể cải hoá chúng mà thôi. Thu luôn cảm động mỗi khi đọc một bài thơ, hay một dòng thư trong thiệp hay những cuộc gọi điện thoại từ trong tù ra của các em. Gọi là các em bởi hầu như họ đều còn trẻ cả. Có những người khi phạm tội còn rất trẻ. Nằm cả mười lăm năm rồi mà nay cũng chỉ khoảng bốn mươi thôi. Cả tuổi xuân trôi qua trong tù tội, cho dù nhà tù có tốt, thoải mái đến đâu đi chăng nữa thì cũng là nhà tù mà thôi. Khoảng 5 giờ sáng thì xe đến cầu Bến Thuỷ. Bên này là Hà Tĩnh, bên kia là Vinh. Dù đã hẹn biết trước là P và H sẽ đón thế mà khi nhìn thấy hai đứa từ bên kia đường nhảy sang đón suýt nữa thì không nhận ra vì trông tay chơi quá. Hai đứa trông „đẹp trai ngời ngời“ cứ như tài tử cả ấy chứ lỵ. Mừng quá. H thì ở Hà Tĩnh này chứ P thì ở Vinh nên hai đứa chọn địa điểm rất hợp lý là gặp chị ở giữa hai địa chỉ cho tiện. Rất cảm động là P đi làm về muộn rồi thức luôn để đón đoàn đấy chứ. Cả hai mời đoàn vào một quán cà phê ngay bên cầu mà hình như là của người quen thì phải. Chuyện trò thoải mái và thân mật. P cũng đã có việc làm, H cũng vậy. Thế là mừng vì như vậy là đã khá ổn định chứ không có việc làm dễ „Nhàn cư vi bất thiện“ lắm. Thu rất cảm động khi các em nhắc lại những tháng ngày trong tù, những kỷ niệm mà chính Thu nhiều khi cũng không nhớ lắm. Nhất là khi P chỉ vào ngực mình xúc động nói „Chị ạ, là đàn ông như em, không khóc được, nhưng chị đến thăm em, nước mắt em ở trong tim này“. Là người làm việc xã hội với biết bao nhọc nhằn, đa mang thậm chí cả nhiều mất mát mà không thể nào kể hết được thì đây chính là những khoảnh khắc hạnh phúc khó có thể chia xẻ nổi. Cảm động hơn nữa là các em đã trưởng thành lên nhiều, đã nhìn nhận được những lỗi lầm tuổi trẻ của mình và bắt tay vào xây dựng một quãng đời mới. Nhưng tiếc thay là trong những người về không phải ai cũng như vậy. Nhiều người qua hỏi thăm,Thu được biết lại chìm ngập trong nghiện ngập, tệ nạn…có lẽ không thể cứu vãn nổi. Để vượt qua được những sai lầm dù nhỏ cũng đâu có phải đơn giản! Cuộc đấu tranh với bản thân là cam go nhất. Nếu không tự mình nhận thức được thì khó vô cùng. Chị mong bọn em dứt bỏ được với quá khứ và thật sự may mắn trong cuộc sống nhé P và H ạ. Chính việc chị cố gắng tìm và thăm bọn em không ngoài mong muốn và động viên bọn em cố gắng. Nói một câu nghe cũ mèm nhưng đúng là như vậy hai đứa nhé „Tương lai mỗi người chủ yếu nằm trong chính hai bàn tay mình“. Cố gắng lên. Cả hai đều rất muốn mời mọi người về thăm nhà nhưng khi biết hầu như thời gian chương trình của đoàn đều được tính toán sát sạt, rất chi li không thể có một khe hở nào thì đành buồn bã chia tay. Chào hỏi mãi mà thấy Hiên và P vẫn còn lưu luyến chia tay, „Kẻ ở trên xe người dưới đường“ mãi vẫn không dứt vì thấy Hiên bảo nghe đâu „Tân Hợi là yêu thì yêu trọn, buồn thì buồn sâu“ mà. Chuyện trò nghe chừng hợp lắm. Cả hai đều ngất ngây cả. Đúng là „Trai lỡ phong vân gái lỡ tình“ thật, vừa gặp họ đã nhận ra nhau ngay. Thế này mà không vì lý do địa lý ngăn cách thì có khi „ra vấn đề“ ấy chứ lị Hiên nhẩy.

Vào đến địa phận Thanh Hoá, thấy cảnh vật cũng không khác bao lăm so với những ngày xưa đi công tác qua. Có cái gì đấy xơ xác, hiu quạnh. Và Thu cứ nhớ mãi là sao ở vùng này trâu bò gầy nhom, cứ trắng trắng mốc thếch thế nào ấy. Trong dân gian xưa có câu “Trâu trắng đi đến đâu mất mùa đến đó“. Có đúng hay không chẳng biết nhưng quả thật xưa kia đi tàu hoả qua Thu thấy rất nhiều trâu trắng ở vùng này. Lại nhớ đến những câu mà chính người Thanh Hoá còn tự trào là „Dô tá dô tà, ước lá rau má to bằng lá sen“ cơ mà thì biết vùng này xưa cằn cỗi đến đâu. Trưa trưa, xe dừng lại ở thị xã, à quên bây giờ Thanh Hoá lên thành phố rồi thì phải. Bàn về việc „nâng cấp“ lên thành phố của các thị xã thì nó cũng như là việc bây giờ sau khi mở rộng Hà Nội thấy bảo Thủ đô có cả mười ngàn đồng bào dân tộc Mường và gà lợn chạy đầy đường bởi địa biên của HN còn lên cả Hà Tây và léo hánh đến tận Hoà Bình cơ. Vậy thì có gì lạ khi những thị xã đó được gọi là thành phố. Trong lúc Elke và Vânchèo tranh thủ sang bên đường tìm hàng gội đầu và mátxa thì cả hội đi ăn. Món nghêu của một nhà hàng ven đường còn tàm tạm chứ thịt gà thì chao ôi là dai, ăn uống quá xoàng và không hiểu sao Thu cứ có cảm giác ghê ghê. Thế mà hình như nghe đâu hình như cũng là nhà hàng khá rồi đó của thành phố này. Thanh Hoá thì cũng chẳng có gì chào mời được, thế là thấy mọi người xông vào tủ bán cá khô, mực, moi (một loại tép) khô…của chính nhà hàng để về làm quà. Hình như xe cũng có dừng lại một lần nào đó để nghỉ ngơi chút ít, nước nôi và đi vệ sinh. Thường là ở cây xăng. Tất nhiên trong cả chuyến đi không phải lúc nào cũng nghiêm chỉnh như vậy. Những vụ mà như Conni, Huyền Vân hay ai đó quằn quại ôm bụng, mặt trắng bệch, mồ hôi „Thánh thót như mưa ruộng cày“ thì ở đâu mà chẳng phải dừng ngay, miễn là chỗ đó có cái gì khuất khuất một tí là lập tức phanh két mở cửa „s´il vous pléz“ xuống ngay.

Ninh Bình là tỉnh tiếp nối ngay Thanh Hoá trên đường từ Nam ra Bắc, nhưng phong cảnh Ninh Bình là bức tranh non nước đẹp tuyệt vời, đường đi quanh co qua những hẽm núi hang động rêu phong, bóng chùa chiền thấp thoáng khuất sau màu xanh của cây cỏ, thỉnh thoảng lại thấy mấy chú dê núi nhảy từ đỉnh nọ sang đỉnh kia, những dòng suối hay những con sông nhỏ uốn mình lượn quanh chân núi… Đúng là sơn thuỷ hữu tình. Không phải ngẫu nhiên mà từ ngàn năm trước cả ba triều đại Đinh, Lê và Lý đã lấy Ninh Bình làm kinh đô bởi không chỉ đẹp về mặt phong thuỷ, mà phong cảnh cực kỳ mỹ lệ. Ninh Bình có Tam Cốc Bích Động được gọi là Hạ Long cạn, có vườn quốc gia Cúc Phương, có núi Non Nước mà nghe đâu đã tạo cảm hứng cho „Nước non nặng một lời thề…“ của Tản Đà, có cố đô Hoa Lư, có cửa Thần Phù mà

„Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm…“

và một trong những danh thắng mà khi nói đến Ninh Bình ai cũng nhắc đến, đó là nhà thờ Đá Phát Diệm, một công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo của buổi đầu Công giáo Việt Nam gắn liền với tên tuổi của cha Phêrô Trần Lục hay thường được gọi là Cụ Sáu, người đã dành cả cuộc đời mình cho việc kiến tạo quần thể nhà thờ Đá Phát Diệm này. Từ hướng nam đến, xa xa ta đã thấy quần thể nhà thờ soi bóng bên hồ, ở giữa hồ là đảo trên có tượng Chúa. Phong cảnh yên bình, thanh nhàn. Vì là một trong những địa điểm nổi tiếng, nhà thờ Đá Phát Diệm thu hút rất nhiều khách du lịch cũng như khách hành hương. Len lỏi mãi cái xe bus to đùng của chúng tôi mới xuyên qua được con đường nhỏ đầy người và đầy hàng quán hai bên bán cơ man là những sản phẩm của cói như chiếu, giỏ xách, hàng mỹ nghệ… để vào bãi đậu xe. Xuống xe rồi, mọi người lại chen vai thích cánh xuyên qua „con đường cói“ tấp nập ấy để vào đến trong địa phận nhà thờ. Đến trước phương đình, cả hội gọi ngay một tay „hiếp ảnh gia“ để làm một tấm toàn đội hình cho chắc dạ đã rồi hạ hồi phân giải, ai muốn ngắm nghía, đi lại đâu thì tuỳ. Lần này không phải là lần đầu tiên Thu đến đây vậy mà cảm xúc vẫn nguyên vẹn như lần đầu vậy. Trầm trồ và ngưỡng mộ trước những nét chạm khắc vô cùng tinh tế, uyển chuyển và sống động như những nếp áo, nét mặt biểu cảm của các vị thánh sử, của Đức Mẹ hay của Thiên Chúa, hay của những chim chóc, hoa lá, cây cỏ..trong các bức phù điêu được tạc bằng đá. Cung thánh thì lộng lẫy sơn son thếp vàng như trong điện Thái Hoà. Toàn bộ quần thể nhà thờ đều toát lên vẻ mềm mại, thanh thoát, nhẹ nhàng. Những mái đao cong cong vút lên nền trời, trùng trùng điệp điệp mà không hề bị rối. Ẩn trong cái uy nghiêm, trầm tư, trang nhã đó là sự gần gũi, cởi mở và giản dị; trong vẻ đẹp của kiến trúc Âu ta vẫn thấy mang hơi thở của văn hoá Việt, cổ kính như mái đình chùa các làng quê Việt Nam quen thuộc. Lòng ta như lạc vào trong cõi nhiệm màu, hân hoan và an lạc. Đến đúng giờ hành lễ nên trong nhà thờ đông kín người. Ngoài sân, trước các khóm tượng thỉnh thoảng có các bà, các chị trong tà áo dài trắng muốt thành kính dâng hoa. Vì còn định đến chùa Bái Đính mà bây giờ cũng đã chiều chiều rồi nên tất cả gọi nhau í ới để ra xe cho kịp. Thấy một hàng bánh dầy nhân đỗ ngon quá thế là Thu mua chục cái lên xe để mỗi người nếm một tí thử. Ngon ra phết. Ngày xưa, khi bé ở sơ tán bố mẹ đi chợ phiên về mua cho mấy cặp bánh này thì mừng rỡ tươi tỉnh quên hẳn chuyện buổi sáng lèo nhèo đòi đi theo mãi không được, khóc lóc ầm ĩ. Mà có phải bánh đựơc làm bằng bột nếp như bây giờ đâu. Ngày đó chủ yếu là làm bằng bột sắn vì phải ăn độn sắn, khoai, bột mì… nên tự nhiên sức sáng tạo của con người ta được huy động triệt để thì rồi mới nuốt nổi những sản phẩm đó để trường kỳ kháng chiến được chứ. Lại nhớ đến chuyện một đồng nghiệp của mẹ Thu cũng là giảng viên dạy ĐH Y khoa. Ngày ấy trường sơ tán lên tận trên Thái Nguyên, trong rừng, đói khổ triền miên. Biết các anh chị Hà Nội thích ăn quà nên người dân ở đó cũng nhanh nhạy làm bánh dầy sắn nhân đỗ mang bán, đâu như hào một cái thì phải. Thế là ăn xong một cái vẫn còn thòm thèm, suy nghĩ đi lại mãi thì đồng chí đó sau khi thét lên câu thơ bất hủ

“…Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm…“

đã quyết định nhảy phắt từ trên nhà sàn xuống sân suýt gãy cả chân để mua thêm một cái bánh nữa tự đãi mình. Giá mà Xuân Diệu biết được thơ của ông đã „vị nhân sinh“ thế nào thì chắc mừng lắm đây. Chuyện thật mà nghe cứ như đùa vậy. Nhưng quả thật đã có thời kỳ người ta thiếu thốn cả từ những vật tưởng như rất bình thường đó. Cho đến bây giờ mỗi khi thấy loại bánh này là trí nhớ Thu lại trở về những ngày sơ tán ấy và câu chuyện mẹ Thu kể lại sống động y như vừa mới nghe hôm qua thôi. Vùng này sản vật có tiếng là cói và các sản phẩm từ cói nên chiếu vùng này được tiếng là rất đẹp không kém gì chiếu Nga Sơn. Thế là cô Tường mua một cặp chiếu về làm quà cho gia đình. Và khi cả hội đã ngồi trên xe đông đủ hết rồi chờ mỗi Ngọc thì thấy Ngọc cũng khuân một bó chiếu to tướng khệ nệ ra. Có ai còn nhớ phim „Người về đồng cói“ ngày xưa không nhỉ. Có Thanh Loan xinh ơi là xinh đóng vai chính đó. Nếu như Thu không nhầm thì bối cảnh câu chuyện là từ vùng cói này thì phải. Rồi hai sự kiện văn học về đề tài người công giáo nổi bật xưa kia ở miền Bắc trong những năm tháng đất nước còn chia cắt chính là „Bão biển“ của Chu Văn và „Nắng“của Nguyễn Thế Phương. Nhờ có những tác phẩm này mà cuộc sống của giáo dân mới được soi rọi phần nào (tất nhiên có „định hướng“), còn hầu như những sự tìm hiểu thế này không được hoan nghênh lắm đâu. Bởi có lẽ cả thế hệ Thu đã „thấm nhuần“ câu nói nổi tiếng của một vị lãnh tụ phe ta “Tôn giáo là thuốc độc!“

Trời sập tối rất nhanh. Cả đoạn đường đi đến Bái Đính rất tiếc là tối om om nên không chiêm ngưỡng được hết cảnh non xanh nước biếc. Đầu tiên cứ tưởng từ Phát Diệm đến Bái Đính rất gần, thế nhưng đi mãi, đi mãi mà chẳng thấy vì hoá ra Bái Đính nằm ở huyện Gia Viễn. Có lần đi qua một chùa nào đó vì thấy thiện nam tín nữ ùa ra đường rất nhiều. Ai cũng hý hửng tưởng đến nơi rồi mà rồi cũng không phải. Cảnh tượng xe chạy lầm lũi một mình một đường trong đêm đen, đèn pha chỉ chiếu sáng cùng lắm là chục mét ra phía trước thôi, núi non sừng sững nhiều khi sát ngay mép đường in lên nền trời tối thẫm những hình thù kỳ lạ… không biết đường mà lại có những đoạn dài hoàn toàn đi trong đêm vắng. Dù có muốn hỏi đường cũng chẳng có ai mà hỏi, nên có cái gì đó hơi kinh kinh. Nhất là nhiều khi cứ bị ám ảnh bởi chuyện „Bò béo bò gầy“ xưa kia ở bến đò Khuất, Giáng mà nghe đâu cũng gần đâu đây thì phải. Dù là chuyện xửa chuyện xưa rồi nhưng có những hoàn cảnh gợi cho ta nhớ lại những chuyện mà nhiều khi ta cứ tưởng bụi thời gian đã phủ lấp tất cả. Cứ thỉnh thoảng lại thấy quay vòng xe trở ra vì lạc đường. Lúc đầu còn thấy lạ nhưng sau thì hoàn toàn bình thường. Mọi người trong xe cũng thiu thiu gà gật cả. Mãi khi đã thấy gần như hết cả hy vọng rồi thì mới thấy mọi người ồ lên, chỉ vào ngôi chùa ở một sườn núi xa xa, đèn điện treo tưng bừng (lại đèn, nhưng cũng may là không thấy loè loẹt xanh đỏ lắm). Đó là Bái Đính mà lâu nay gần như là một hiện tượng với những kỷ lục như „Ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á“, „Ngôi chùa sỡ hữu nhiều kỷ lục nhất VN“, „Bái Đính- Lục nhất Việt nam“…khiến dân chúng nô nức đi tham quan. Chứ ít ai biết được nhiều về Bái Đính Cổ tự, ngôi chùa do thiền sư Minh Không trong khi đi tìm lá thuốc để chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông hoá hổ đã phát hiện ra những hang động phong cảnh tuyệt đẹp nên dựng chùa thờ Phật tại đây. Bái Đính Cổ tự không chỉ nổi tiếng với các hang Sáng thờ Phật, hang Tối thờ Mẫu Thượng Ngàn có bảy buồng hang, cái lên cao cái xuống thấp, đều thông nhau mà vòm hang có những trần nhũ đá rủ xuống tuyệt đẹp, muôn hình vạn trạng; với giếng Ngọc có nguồn nước trong suốt, ngon ngọt, không bao giờ cạn, có màn sương lạ lùng huyền bí thường bao phủ trên miệng giếng; với đền thờ thần Cao Sơn là một trong những người con của Lạc Long Quân- Âu Cơ và cũng chính là một trong bốn vị thần trấn giữ bảo vệ Thăng Long thành; với đền thờ Thánh Nguyễn tức Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không…mà còn là nơi lưu dấu ấn của vua Lê Thánh Tông khi ngài ban tặng bốn chữ „Minh đỉnh danh lam“ cho chùa thờ Phật với ý là chùa đẹp và có giá trị xứng đáng được khắc vào đỉnh đồng để thiên hạ cùng biết và bài thơ tứ tuyệt ca ngợi cảnh chùa. Thực ra gần đây khi mọi người đổ xô đến Bái Đính chủ yếu là vì những cái „Nhất“ đã nói ở trên do báo chí làm rùm beng. Chứ theo Thu giá trị thật của Bái Đính chính là ở Bái Đính Cổ tự với những ý nghĩa văn hoá và lịch sử mà nó mang lại. Tất nhiên, việc xây chùa, đúc chuông, tô tượng…bao giờ cũng là việc làm tốt. Nhưng có cần phải ầm ĩ đến thế không với những danh xưng, những kỷ lục „Tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất VN“, „Đại hồng chung lớn nhất VN“,“ Để Bái Đính trở thành di sản văn hoá thế giới“, „Nam thiên đệ nhất tự“…khiến cho người nghe thậm chí khó chịu bởi cứ làm như chùa bé thì không đáng được ca tụng bằng vậy. Ở các nước, thiếu gì những công trình vô cùng vĩ đại có tầm vóc quốc tế, mang tính lịch sử, văn hoá, mỹ thuật sâu đậm mà ví dụ thì vô cùng nhiều nhưng có thấy ai người ta oang oang thế này đâu, cứ đọc thử trong những quảng cáo du lịch của họ thì rõ. Đó là còn chưa kể không phù hợp với bản chất của đạo Phật là cực kỳ giản dị. Làm sao để mỗi người khi hành hương về đây họ sẽ thấy mình được về thành kính bên chân Phật, lòng mình thiện lương hơn, nhân từ hơn, chiêm nghiệm được hơn những giáo lý cốt tuỷ của lời Phật dạy… chứ không phải vì hiếu kỳ bởi mỗi ở đây có tượng Phật hay có cái chuông to nhất VN. Còn điều này là điều Thu chưa bao giờ thấy ở bất kỳ nơi nào có chùa chiền ở miền Nam. Đó là cảnh tượng hỗn loạn, chụp giật và bẩn thỉu khủng khiếp. Xe chưa vào được đến bãi đỗ là hàng toán người xông ra, đi xe cũng có mà chạy bộ cũng có, túm chặt lấy cửa xe chèo kéo chào mời mà thấy phát sợ. Rồi tranh giành, cãi cọ, chửi bới… lẫn nhau. Vừa đặt chân xuống thì tưởng xe mình lạc vào một bãi rác khổng lồ. Dù là trời tối nhưng ta vẫn thấy cảnh tượng kinh khủng (tuy không xác định được „thể loại“ của rác) mà chắc là ban ngày còn hãi hùng hơn bởi còn thêm đội quân ruồi nhặng lúc ấy chưa đi ngủ. Nếu là trời nóng thì còn khủng khiếp biết chừng nào. Mặc dù khá muộn thấy chẳng còn ai, chùa thì đèn đuốc sáng choang ngay bên cạnh, nhưng do thấy không thể yên tâm được trước những đối tượng đáng sợ như vậy nên cả hội lại lên xe đi vòng phía bên kia của chùa định vào cửa khác. Nhưng đây cũng như vậy, cũng không thể yên tâm được bởi xe ôm xe máy gì đó với cái đám người tự nhận là thợ chụp ảnh trông cũng không khác đám „lục lâm thảo khấu“ vừa rồi bao nhiêu nên không ai dám xuống. Mãi đến khi thấy không ăn thua gì dạt đi rồi thì Hiên là người đầu tiên với cô Tường vào lễ Phật vì nghĩ đến đây rồi chẳng nhẽ không vào thì mới lác đác có vài người vào theo. Một thoáng mọi người ra ngay. Mang theo nỗi khiếp hãi, xe lại trong đêm đen lần mò trở ra đến tận thị xã Ninh Bình thì rẽ về Hà Nội. Sao lúc ra lại có vẻ nhanh hơn nhỉ. Bao giờ cũng vậy chắc là do đã quen đường rồi ấy mà.

Về đến Hà Nội thì cũng đã khuya lắm rồi. Khi xe đỗ trước khách sạn King Crown ở phố Huế cạnh rạp Đại Nam thì cũng đã gần nửa đêm. Phòng ốc nhận xong là Thu, Đông, Nga, Hiện, Hoàn, Hiên theo cô Tường sang nhà cậu Chiến ở ngay cạnh đó, chỗ đầu Phùng Khắc Khoan ăn cơm tối. Vânchèo, Tố Vân, Hưởng, Lê, Ngọc, Đức đều chạy về gia đình. Nhưng đảm bảo sáng mai lại có mặt đông đủ hết để theo đúng chương trình của đoàn, thậm chí Tố Vân về tắm rửa gì đó ở nhà chị gái thôi và Vânchèo chạy về hôn bu một cái rồi lại quay lại ngay ngủ ở khách sạn với bạn bè. Chỉ có mỗi Đức là xin nghỉ ngày mai luôn vì tiễn ba mẹ đi sang Đức lại. À, hai chị em Huyền Vân và Thanh Hương cũng chạy về nhà, nói sáng mai đến lúc ăn sáng đi cùng với mọi người cho vui. Cậu Chiến là em ruột cô Tường, ở ngoài Hà Nội. Gia đình buôn vải nên cửa hàng chật ních đầy các xúc vải chồng chất bên nhau, len mãi mới lên được cầu thang xoắn ốc bé tí tẹo để lên gác ăn cơm. Ở đây là „Tấc đất tấc vàng„ mà lại. Bữa cơm nhà vợ chồng cậu ngon quá. Có gà luộc béo vàng ươm, cái mà chẳng bao giờ ở bên Đức lại được ngon như thế này cả, có rau bí xào cọng xanh mướt, đập tỏi thơm lừng đúng là người HN xào. Chỉ thương Sáu và Kim đi tìm chỗ đỗ xe nghe đâu xa lắm mãi tận ngoài bờ sông cơ vì xe bus thì to và khách sạn lại ở ngay trung tâm làm gì có chỗ đỗ, rồi gần 1 giờ sáng mới mò về được khách sạn thì lúc đấy còn gì mà ăn nữa vì ở ngoài Hà Nội hàng quán đóng cửa sớm lắm. Thế là chắc vác cái bụng đói meo đi ngủ. Còn nghe Tố Vân kể là lúc quay về khách sạn mọi người đi hết cả rồi hay ngủ gì đó thì gặp Conni đói quá nhăn nhó mà không biết đi đâu để ăn thế là cả hai rủ nhau ra chợ Hôm ngay cạnh ăn phở chống đói chứ không thì làm sao ngủ nổi. Rồi một đêm đầy mộng mị. Ru ta ngủ, đâu đó vẳng giọng ca tha thiết, không rõ từ lòng mình hay từ cái đài của quầy rezeption ngay bên cạnh phòng “…Hà Nội ơi, mỗi khi lòng xác xơ, ta trở về, để nghe tim mình dâng trong nước hồ thu…“

14/3

Hôm nay là ngày đầu tiên ở Hà Nội đây nên thấy mọi người đều trong tâm trạng rất háo hức dù trong đoàn người sinh ra lớn lên ở HN chiếm con số khá nhiều đấy chứ. Bởi với chúng ta đó là sự trở về, về nhà. Còn với các bạn chưa một lần đến Hà Nội thì dù là Đức hay Việt đều rất náo nức bởi sự đặt chân đến Hà Nội nó có một ý nghĩa đặc biệt hơn vì đó là Thủ đô đã có 1000 năm lịch sử của VN. Sáng ra cả hội đi bộ sang bên Hoà Mã có quán vằn thắn thấy bảo cũng có tiếng tăm. Đông nghịt, không còn chỗ ngồi nữa thế là phải gọi mang sang quán cà phê bên cạnh. Xong xuôi thì thấy Huyền Vân và Hương xin nghỉ hai hôm vì nhà có việc rồi sẽ lại đi Sapa cùng đoàn. Mọi người tà tà dạo bộ về khách sạn, nhưng lại đi lối Phùng Khắc Khoan để rẽ vào chào vợ chồng cậu Chiến. Mê tơi vì vải vóc thế là Đông, Hiện, Hưởng, Nga mua và may liền quần áo, mỗi người nghe đâu ít nhất là vài cái. Cứ để đó cho rộng rãi thời gian may, khi quay trở lại HN thì lấy là vừa. Thu nói chuyện với Hương và Huyền Vân nên phải chạy đuổi theo ra đến đầu phố chỗ nhà cậu Chiến thì gặp mọi người. Thấy cả hội hí hửng lắm vì bảo vừa gặp diễn viên phim Hùng râu xong, chả hiểu hắn hay đóng phim gì hình như những vai bặm trợn đao búa thì phải và thấy bảo cũng nổi lắm. Thu hầu như không có cảm tình với phim ảnh VN thời nay, ít phim khả dĩ xem được. Phim ảnh gì mà cứ như kịch vậy, rồi cái được kịch bản thì kém diễn xuất, cái được âm thanh thì lại quay ẩu tả…Có những cái lỗi tưởng rất nhỏ nhưng nhiều khi làm hỏng cả một bộ phim như ở một vài bộ phim nghe đâu còn được giải gì đó (tất nhiên là của ta) thì gán vào miệng mồm một ông nông dân ở một nơi khỉ ho cò gáy những lời „đao búa“ mang đầy tính triết học hàn lâm của một học giả, một đứa trẻ lên 2, lên 3 tuổi thì nói như một cụ già, rồi một cái chợ nghèo của một miền quê nghèo rớt thì các lều chợ trông đều mới toanh, lấy kéo cắt cho tua rua ra cho có vẻ xơ xác, sự việc xảy ra hàng 15- 16 năm, nhưng từ khi cô gái nhân vật chính chửa hoang, đến khi con trai cô lớn lên gần lấy vợ vẫn con chó con đó, không hề thấy lớn lên, có bộ phim dài nhiều tập mục đích ca ngợi sự thông minh, tài trí, dũng cảm của người chiến sỹ cảnh sát nhân dân thì có nhiều trường đoạn có tác dụng ngược lại vì kịch bản vô lý, diễn xuất quá tệ…Nhiều sự việc, hành động khiên cưỡng, cẩu thả, không thể chấp nhận được hoàn toàn do nhận thức và tài năng chứ không thể cái gì cũng đổ cho “kinh phí“ được. Tất nhiên nói như vậy là dễ nhất. Khoẻ re. Ít ai ý kiến được. Mà đáng ghét nhất là báo chí phê bình là cứ bốc nhau lên tận mây xanh, gây ngộ nhận cả về phía khán giả lẫn người làm phim, tất nhiên trong đó có cả diễn viên mà được vài ba cái danh xưng người mẫu, hoa hậu thì sự ngộ nhận đó mới thật là khủng khiếp. Cứ nghĩ đến hai câu thơ „Ngồi buồn cởi cúc… còn hơn vào rạp xem phim nước mình“ của Thiệp trong „Tuổi 20 yêu dấu“ là lại thấy buồn cho điện ảnh nước nhà.

Đoạn đường Phùng Khắc Khoan, Trần Xuân Soạn, phố Huế này đối với Thu thân thiết biết chừng nào. Bạn bè Thu từ bé đến lớn đều ở quanh đây. Lên cấp 3 thì chúng có ở xa hơn một tí chứ những năm cấp 1, cấp 2 thì đều mấy phố loanh quanh. Nhà Thu từ bé đến lớn ở đây, nơi có ban công có bụi hoa quỳnh to nhất phố, nơi mà mẹ Thu mỗi sáng lúi húi tưới cây, nơi chiều chiều cùng bố Thu ngồi hóng mát, chờ đón anh em Thu đi học về… Trên ban công đấy là nơi bao tối cả nhà ngồi bình thơ, nghe nhạc… „Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi về đường cũ nên thơ…“ Có cả gần hai chục năm trời, mỗi khi ở Sài Gòn ra hay ở Đức về, không bao giờ Thu dám đi qua con đường đó, toàn chọn đường khác, Thu không dám cả ngước lên nhìn ngôi nhà quen thuộc thuở thơ ấu đó bởi kỷ niệm của những ngày thơ ấu êm đềm hạnh phúc nó sâu đậm quá… Đã bao nhiêu đêm trong mơ Thu nhớ đến từng viên gạch, từng miếng ván, từng chỗ mối mọt trên sàn gỗ của ngôi nhà yêu dấu của gia đình. Nhắm mắt lại Thu cũng có thể đi mà không nhầm lẫn gì cho dù phố xá đổi thay khá nhiều. Ở Phùng Khắc Khoan cho đến năm Thu lớn vẫn còn cái hầm trú ẩn chiếm cả dãy phố mà hồi đó cứ nghe những tin tức thậm thụt là anh nọ chị kia thế nào đó, không hiểu hư thực thế nào nhưng lần nào ra nhà bạn ở phố đó chơi về đi qua đều thấy ghê ghê. Dù gần hơn nếu đi qua PKK nhưng bao giờ Thu cũng vòng lối phố Huế để về nhà. Rồi phố đó còn có một đứa bạn người Tàu có cái tên Kắm Làn mà không hiểu bây giờ trôi giạt phương nào vì vụ người Tàu năm 79 bị xua đuổi về nước. Rồi Phùng Khắc Khoan cũng là nơi có nhà cô bạn thân năm lớp tám thường xuyên để tụ họp đàn đúm mỗi khi sau những trò ma ranh gì đó cả lũ lại rũ rượi cười đùa trở về „đại bản doanh“ để phân tích nguyên nhân thất bại cũng như thành công và ăn mừng thắng lợi bằng một chầu ốc luộc chẳng hạn mà vừa ăn phải vừa vuốt bùn vì không kịp ngâm cho sạch nữa. Sao mà ngày ấy thấy cái gì cũng cười được nhỉ. Những ngày vô tư lự. Chẳng bù cho bây giờ nhìn cái gì, việc gì cũng có thể rưng rưng nước mắt được. Nhà bạn Thu có một vườn phong lan và địa lan cực đẹp do ông bô thị là dân chơi lan. Cũng nhờ có vườn lan đó mà Thu lần đầu tiên biết đến thú chơi lan và tình yêu lan. Thẳng PKK nhìn sang Trần Xuân Soạn bên trái là dãy hàng dưa, cà, mắm, muối, dấm bỗng; còn ngay bên phải cổng chợ Đức Viên xưa kia là quỹ tiết kiệm, nơi lần đầu tiên năm Thu 7 tuổi bố mẹ Thu cho ra lập sổ TK cho riêng mình. Ngày đó chưa có chiến tranh hay nói đúng hơn là chưa phải đi sơ tán. Cái cảm giác lâng lâng hạnh phúc của ngày hôm đó không bao giờ Thu quên được trong đời vì quá sung sướng khi biết rằng mình có hẳn một cuốn sổ TK của riêng mình và mình có tiền riêng. Còn trước cổng chợ, cả dọc một đoạn Trần Xuân Soạn, một năm nào đó mưa lụt ngập đường đến tận bụng trẻ con. Thấy cả lũ cả lĩ lội ùm ùm vác rổ rá để vớt tôm cá từ chợ trôi ra hò hét um sùm. Tất nhiên là không bao giờ Thu được đàn đúm với bọn đó, chỉ được vừa thèm thuồng vừa kinh sợ đứng nhìn chúng mà thôi. Còn những kỷ niệm kinh khủng hơn là ngay đầu Ngô Thì Nhậm với Trần Xuân Soạn, sát hàng gạo mà lúc nào cũng thấy rồng rắn xếp hàng cả người, gạch đá nón mê… đó có một xưởng cơ khí, sửa chữa cái gì Thu cũng không biết vì chưa bao giờ tìm hiểu cả, mà chẳng hiểu sao hôm ấy có ông thợ cưa cái bình oxy thế nào bị nổ, làm bay đầu cả một ông khách đạp xe qua đúng lúc đó. Cả phố chạy ra thì đã thấy ông nằm đắp chiếu ngay giữa đường, hình như không đầu thì phải. Thấy bảo thế chứ trẻ con thì bố đứa nào dám liều mạng lật chiếu lên xem hả giời. Hay ngay chỗ mấy bà bán hoa cúng trên lề đường đối diện cổng chợ phía đầu phố Huế thì có hôm một xe tải chẳng hiểu chạy thế nào leo hẳn lên lề, đâm chết một trong những bà đó ngay trên vỉa hè mà thấy trẻ con kháo nhau là đầu bà ấy bị đâm nát bét, cứ phùi ra những hòn gì đó trông như bóng bàn. Chẳng hiểu hư thực thế nào. Ngay cạnh đó thì có hàng mì mậu dịch mà có hôm sáng Thu xách cạp lồng ra mua mì về ăn, thấy mấy cô mậu dịch viên xã hội chủ nghĩa có vẻ cứ giấu giấu diếm diếm chuyện gì. Hoá ra là để chuẩn bị sẵn, tối hôm trước bao giờ các cô cũng sắp trước cả dãy bát mì trên bàn để sáng hôm sau khách mua là chan nước dùng thôi cho nhanh. Làm việc theo năng suất mà lại. Chẳng hiểu đậy điệm thế nào mà khi dội nước dùng vào một bát thì thấy một chú chuột nhắt chết bỏng nằm phơi bụng trắng lốp, răng nhe trắng nhởn vì chắc trốn trong đó rồi ngủ quên chẳng hạn. Nhòm vào „Tận mục sở thị“ nên hãi quá, Thu bỏ cả bát mì đã mua rồi, xách cạp lồng chạy về nhà. Nhớ năm nào cả Hà Nội đau đớn lặng lẽ đi biết bao nhiêu khi xảy ra vụ đắm thuyền trên hồ Bảy Mẫu trong công viên, chết bao nhiêu trẻ con, toàn lứa bạn học Thu ở phố Huế. Những đứa trẻ đó trong tâm trí những người còn lại thì mãi mãi chúng 12-13 tuổi cho dù bây giờ nếu còn cũng phải trên dưới 50 cả rồi. Còn ngay đầu Thi Sách giáp Trần Xuân Soạn là Uỷ ban KHXHVN, là nơi bố Thu gần như hết cả đời mình gắn bó từ buổi đầu thành lập cho đến lúc mất. Ngày xưa khi chưa giải phóng, đầu thập kỷ 70, khi HN mới có TV là ăn cơm xong cả nhà quần áo tề chỉnh sang UB xem TV cùng hàng trăm gia đình các viện sĩ khác. Đó cũng là nơi mà cả mấy chục năm ròng rất nhiều các hàn lâm viện sĩ ăn, ngủ sinh hoạt… mọi thứ trên bàn làm việc cả, tất nhiên là sau giờ làm việc. Hàng bao nhiêu trẻ con của UB KHXH thế hệ sau Thu mà sau này lớn lên làm đến ông nọ bà kia cũng rất nhiều đứa được sinh ra từ đây, trên những cái bàn làm việc bằng gỗ tạp bị mối đục và loang lổ, phồng rộp vì các vết ố nước chè này.

Quay trở lại khách sạn là Sáu và Kim đã lấy xe về đến nơi. Mọi người lên xe bắt đầu một ngày tham quan Thủ đô ngàn năm văn vật. Ở Hà Nội cũng như ở những thành phố lớn thì căng thẳng nhất chính là vấn đề đỗ xe vì xe của đoàn to quá, thực ra chỉ hợp với đi đường dài mà thôi. Nên xe mà có tìm được chỗ đỗ nào là chết dí luôn chỗ đó. May, ra đến Lê Lai thì Sáu và Kim tìm được chỗ. Ở ngay trung tâm mà lại có chỗ đỗ xe là đại thắng rồi. Cả hội xuống xe, dạo chơi vườn hoa Lý Thái Tổ vì có tượng vua Lý Thái Tổ, người cách đây 1000 năm đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, mở ra thời kỳ huy hoàng của nước Đại Việt. Trước kia, thời thế hệ Thu thì đây là vườn hoa Chí Linh. Ở giữa có một cái đình mà cứ gọi là Nhà Kèn, nơi mà anh em Thu ngày bé có lần được ra biểu diễn đàn ở đó cùng với các bạn cùng trường nhạc. Năm nào cũng chẳng nhớ vì đã lâu quá rồi. Chỉ nhớ đó là một sự kiện cũng „oai“ lắm, bố mẹ và bao nhiêu bạn bè đến dự. Đằng sau là Ngân hàng Nhà nước, đằng trước là Bờ Hồ, một bên là Bắc Bộ phủ, một bên là cung Văn hoá Thiếu Nhi. Ngân hàng NN là một trong những công trình của thời kỳ thuộc địa để lại. To, đẹp và đồ sộ. Trước cửa Ngân hàng xưa hay có các chương trình văn nghệ lớn mà bây giờ gọi là các show diễn đó với những nghệ sỹ tên tuổi một thời như Kiều Hưng, Trung Đức, Thu Hiền, Vân Khánh, Thuý Hà… Ngày xưa làm gì có khái niệm cô này hay anh này trông xếch xy quá. Thế nhưng Thuý Hà ngày đó đã là một hiện tượng vì phong cách biểu diễn thoải mái, người ngợm lúc nào trông cũng hừng hực và khuôn mặt nàng khá khả ái, thanh niên ta ngày đó là mê tơi Thuý Hà. Bây giờ mà hỏi lứa Tony Trần là đều rất nhớ và nhớ rất kỹ lưỡng. Hết thảy vì ở nàng toát ra một cái gì đó rất tự nhiên, rất Tây, một luồng gió khá mát mẻ trong cái thời mà quần hơi loe, tóc hơi dài một tí đã bị cắt tiệt thì Thuý Hà quả là một hiện tượng. Chéo chéo một tí bên đầu đường Lý Thái Tổ là CLB Thiếu nhi mà ngày bé tí, chưa đến trường đi học, Thu và anh mình đã một tuần vài lần đi bộ từ nhà đến đó để học nhạc lý. Cái cảm giác cảm động vô vàn của lần đầu tiên được mẹ chở đến CLB vào lớp học nhạc, viết những nốt nhạc đầu tiên trong đời và bố Thu thường lấy vỏ bao diêm để kẻ khuôn nhạc cho hai anh em, Thu vẫn nhớ như in đến bây giờ. Ngày ấy khi cuộc sống còn quá nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần thì nơi ấy quả là thiên đường của con trẻ với biết bao đội ca, đội múa, lớp vẽ, lớp kịch… Và cũng từ nơi ấy đã ra đời không ít nghệ sỹ, ca sỹ mà Thu biết của thế hệ Thu. Nhìn sang bên này đường, bên kia vườn hoa là Bắc Bộ Phủ. Thực ra từ đầu TK 20 thì chưa có tên gọi này. Nguyên thuỷ từ TK 18 có một toà lầu cao đắp hình 5 con rồng để chúa Trịnh hóng mát gọi là lầu Ngũ Long. Nhưng đến TK 19 thì lầu đổ nát hoang tàn nên xây chùa Báo Ân tại đó. Cuối TK19, Pháp chiếm Hà Nội, phá chùa xây tư dinh cho quan Thống sứ Bắc Kỳ ở. Đầu tiên tên là phủ Thống sứ, sau là phủ Khâm sai tức là nơi làm việc của quan Khâm sai đại thần triều đình Huế ra để cai quản Bắc kỳ. Vì thế khi tiến hành cuộc Cách mạng Tháng 8, ngày 19/8/45 quần chúng cách mạng Hà Nội đã đánh chiếm, đánh dấu sự nghiệp thành công của cách mạng và phủ Khâm sai được đổi tên thành Bắc Bộ phủ, là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là trụ sở chính của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong những ngày đầu tiên cách mạng thành công. 19/12/46 thực dân Pháp quay trở lại và đây cũng chính là trọng điểm của chiến sự. 20/12 Pháp tăng cường lực lượng tiến đánh dữ dội. Hà Nội chìm trong 60 ngày đêm khói lửa. Bắc Bộ phủ là trận đánh ác liệt nhất, kéo dài nhất trong những ngày mở đầu toàn quốc kháng chiến, trở thành một biểu tượng của tinh thần „Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh“ của Thăng Long Hà Nội. Có nhiều sách vở viết về thời gian này của Hà Nội nhưng Thu thấy hay nhất và ấn tượng nhất vẫn là „Sống mãi với Thủ đô“ của Nguyễn Huy Tưởng.

Chờ mãi mới chụp ảnh cả hội được dưới tượng Lý Thái Tổ vì có một hội cựu chiến binh không biết từ tỉnh nào đến cứ chụp tới chụp lui mãi không xong. Thực ra tượng này mới được thi công xây dựng từ năm 2004, nhằm hướng tới Đại Lễ 1000 năm Thăng Long chứ trước kia không có tượng này. Hình như trời mới mưa xong thì phải nên nền gạch quanh tượng thấy loang loáng nước. Cây cỏ hoa lá xanh um. Hình như Hà Nội có trồng thêm nhiều loại hoa lạ mà Thu ngày bé chưa từng thấy nên khi các bạn Đức hỏi loài hoa gì Thu cũng đành chịu. Thấy một anh chụp ảnh quanh quẩn đây đó trông cũng nhanh nhẹn, vui vẻ hỏi, anh ta cũng chịu hay là nói một cái tên gì đó mà không thể nhớ nổi. Tà tà cả đoàn đi bộ dạo chơi Bờ Hồ và chụp ảnh. À, „hiếp ảnh gia“ này có vẻ cũng ham vui và mến đoàn mà cụ thể là hình như rất mến Hưởng nên đi theo luôn. Đầu tiên tưởng chỉ một lúc thôi nhưng hoá ra sau gã đi theo cả ngày luôn, đến chiều tối chia tay thì mới hẹn sáng mai đưa ảnh đến. Gã nói nhiều, vui vẻ, huyên thuyên chắc để „doạ“ Hưởng thì phải nên ra ý là có hiểu biết văn chương thơ phú. Nhưng sau khi nghe gã chẳng hiểu sao lại chuyển sang đề tàì Nam Cao mà tuyên bố như giữa chỗ không người là cái tên đầu tiên nguyên thuỷ của „Chí Phèo“ là „Sống mòn“ thì Thu hãi quá nên có khuyên gã là chỉ nên nói về chuyên môn hẹp của mình là chụp ảnh thôi. Như thế tốt hơn, cho cả gã và cho cả những người nghe. Là người nhanh nhạy nên từ lúc đó không thấy gã đề cập gì đến tình hình văn thơ gì nữa. May. Bẻo lẻo, nói nhiều là bệnh nghề nghiệp chung của thợ may, thợ cắt tóc, chụp ảnh… Nhưng nhìn chung thì nó cũng vui vui và vô hại. Nhất là khi đang đi chơi thế này thường lòng người ta cũng rộng lượng hơn. Hồ Gươm từ thời xa xưa thông với sông Hồng, vì nước hồ xanh biếc kỳ lạ nên có tên là Lục Thuỷ. Thời Lê còn có tên là hồ Thuỷ Quân bởi được dùng làm nơi luyện tập thuỷ quân và sau đó được đổi thành hồ Hoàn Kiếm bởi gắn liền với sự tích trả gươm thần cho Rùa Vàng của Lê Lợi khi cuộc kháng chiến kháng Minh của dân ta thắng lợi. Quanh hồ „Liễu dài thả gió lê thê“ quanh năm, phượng với tán lá xanh biếc, hoa nở đỏ ối vào hè hay khi trời vào thu, lộc vừng với những chùm hoa dài đung đưa thơm ngát cả một góc hồ… Thấp thoáng sau màn liễu thướt tha là Tháp Rùa rêu phong trầm mặc, nơi xưa kia thời Lê là Điếu đài của nhà vua, nơi ngài nhàn tản ra câu cá ngắm cảnh trời nước. Ít ai còn nhớ rằng, thời thuộc địa đã có thời gian tượng „Bà đầm xoè“ tức là một phiên bản của tượng Nữ thần Tự do (và phiên bản thứ hai là ở trên sông Seine- Paris) đã ngự trên đỉnh tháp này. Người sinh ra lớn lên ở Hà Nội mấy khi lại đi chơi Bờ Hồ bởi vì đã quá thân thuộc từng gốc cây, đường phố. Cũng như người ở Berlin vậy, nếu không có khách khứa từ „Đông dương“, các nước sang hay từ tỉnh lên chơi thì có ai tự nhiên lại rủ nhau đi lên tháp Vô tuyến Truyền hình? Ngày xưa tháp này được hâm mộ nhiều một phần vì là một trong những biểu tượng của „đỉnh cao của phe XHCN“, nhưng phần quan trọng và hấp dẫn hơn nhiều chính là từ trên đỉnh tháp, chỗ có quán cà phê quay tròn trong một tiếng đồng hồ đó ta nhìn sang được phe kia để tận mắt thấy được chủ nghĩa tư bản giãy chết. Thế nhưng khi đi xa „Những chiều sương khói dâng khơi, biết bao là nhớ tơi bời“ âý, nhớ về quê hương ta luôn khắc khoải cả những nơi chốn bình thường , ta „Nhớ cả những người không quen biết“ thì chính hồ Gươm tháp Rùa là một trong những biểu tượng của Hà Nội dấu yêu, mà thường ta hay nhớ đến nhất. Conni và Katharina với niềm phấn khích hân hoan nhắc đi nhắc lại với Thu rằng hiện tại chúng ta đang đứng ở trung tâm Hà Nội đây, nơi được nghe Thu kể nhiều mà bây giờ mới thực là đặt chân đến. Thật là „Niềm ao ước bấy lâu, nay mới thoả tấm lòng“. Cả hai chụp bao nhiêu kiểu hết đứng lại ngồi bên hồ vì cảnh quá đẹp. Bỏ qua những cảnh kiểu như hai anh chị đang ngồi lên lòng nhau âu yếm nặn trứng cá cho nhau hay là bỗng dưng thấy cả cái ghế ngồi hóng mát bên hồ lại thấy một ông cởi trần, thò cả cặp chân đen thui lên ngủ ngáy o o giữa thanh thiên bạch nhật… thì hồ Gươm lung linh mây trời với đảo Ngọc, cầu Thê Húc, với tháp Rùa, với hàng liễu rủ soi bóng mặt hồ… đúng là một thắng cảnh của Hà Nội. Cầu Thê Húc – nơi ánh sáng mặt trời buổi sáng sớm đậu lại – cong cong, màu đỏ của sơn son, trông giản dị mà lại cực kỳ mỹ lệ nối với đảo Ngọc, đứng nhìn từ phía nào cũng đẹp. Bên này cầu là tháp Bút bằng đá trên có khắc ba chữ“ Tả thiên thanh“ có nghĩa là viết lên trời xanh, đài Nghiên hình cửa cuốn trên có đặt một nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ dọc do ba con ếch đội, trên có bài thơ khắc nói về công dụng của cái nghiên mực về phương diện triết học. Bên cạnh tháp là cổng chính với hai đại tự Phúc và Lộc đỏ thắm, tạo nên cảnh quan oai nghiêm. Vào hai bên có hai bảng rồng và hổ tượng trưng cho bảng vàng cao quý ghi danh tính những người thi đỗ, động viên sĩ tử dùi mài kinh sử, chiếm bảng vàng. Trải qua nhiều thăng trầm, nguyên thuỷ là đền Ngọc Tượng thời Lý, thời Trần là đền Ngọc Sơn, cuối nhà Lê trở thành chùa Ngọc Sơn và sau đó là đền Tam Thánh. Sau khi xây thêm và đặt tượng Văn Xương Đế Quân vào thờ thì lại được đổi thành đền Ngọc Sơn và diện mạo của đền như bây giờ chính là do „thần Siêu“- nhà nho Nguyễn Văn Siêu – tu sửa vào nửa cuối thế kỷ19. Từ cầu Thê Húc bước vào đảo Ngọc, ta gặp Đắc Nguyệt lâu nghĩa là lầu được trăng, có cây đa cổ thụ um tùm xanh mướt quanh năm, phía Nam có đình Trấn Ba “chắn sóng“, trong đền ngoài thờ Văn Xương Đế Quân ngôi sao chủ cho việc khoa cử thì còn thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Lã Đồng Tân một trong bát tiên bất tử và cả thờ Phật Adiđà. Đây là một sự thể hiện Tam giáo đồng nguyên (tam tông miếu) rất đặc trưng của người Việt. Ra khỏi đền Ngọc Sơn, chéo bên đường là đền Bà Kiệu còn có tên là Thiên Tiên điện, thờ Mẫu Liễu Hạnh, từ thời Lê Thần Tông thế kỷ 17. Bây giờ đền cũng chính là nơi trưng bày các hiện vật văn hoá và lịch sử của Thăng Long – Hà Nội qua nhiều thời đại. Thời Pháp, khi làm đường (Đinh Tiên Hoàng bây giờ) cắt ngang qua sân đền, chia đền làm hai phần. Phần tam quan của đền nằm bên phía đền Ngọc Sơn, còn đền chính phía bên này đường. Cạnh đền có một cây đa (hay si nhỉ) cổ thụ rất to, phải mấy người ôm, đằng sau đó hay có ông khắc kính bút ngồi. Cả hội rủ nhau ra góc đường, trước „đồng hồ đếm lùi“ để chụp ảnh kỷ niệm cho biết là còn 210 ngày nữa thì đến Đại Lễ 1000 năm Thăng Long. Thấy mấy chị hàng rong gánh chuối đi bán, Elke và Bettina cứ đòi mượn để gánh chụp ảnh. Vừa lúc đó Sáu và Kim đã cho xe trờ tới, cả hội vội vàng lên xe chứ chỗ đó mà đỗ là quá ba vạ, cảnh sát tóm lấy thì nguy to, phạt nặng.

Xe vòng một vòng Bờ Hồ „cho hai họ cùng ngắm phong cảnh“ rồi bon thẳng ra Văn Miếu Quốc Tử Giám. Chẳng biết Sáu Kim cho xe đi đỗ tận đâu chứ cả đoàn đi mua vé vào tham quan. Chỉ có cô Tường và Đông là tranh thủ đi thăm gia đình ở ngay đây vì thời gian theo đoàn sát sạt quá nên không còn khi nào khác được. Tất nhiên là sau khi đã nhờ tay chụp ảnh kia làm mấy pô cho chắc chắn đã. Văn Miếu Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của Hà Nội, có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử hình thành Thăng Long Hà Nội. Nhắc đến truyền thống 1000 năm Thăng Long, không thể không nhắc đến Văn Miếu Quốc Tử Giám. Văn Miếu được xây dựng vào năm 1070, Lý Thánh Tông cho đắp tượng Khổng Tử và các môn đệ để bốn mùa cúng tế. Thái tử Lý Càn Đức, con trai của Lý Thánh Tông và Nguyên phi Ỷ Lan, mà năm 1072 lên ngôi thành vua Lý Nhân Tông chính là người học trò đầu tiên tại đây. Nên Văn Miếu ngoài chức năng thờ tiên thánh, tiên sư của đạo Nho, nó còn mang chức năng là trường học Hoàng gia nữa. Sau đó, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ngay cạnh Văn Miếu, có thể coi đây là trưòng đại học đầu tiên ở VN. Tên Quốc Tử chính bởi ban đầu chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại thần quyền quý của triều đình. Đến thời Trần thì được mở rộng thêm và thu nhận cả con cái thường dân mà có sức học xuất sắc. Ở đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp (như chức hiệu trưởng ngày nay) và là thày dạy trực tiếp của các hoàng tử. Sống một cuộc đời thanh bạch và là người chính trực, tiết tháo nổi tiếng với “Thất trảm sớ“ xin chém bảy tên gian thần làm những việc vô đạo, ông là tấm gương sáng của triều Trần và cũng là người thầy tiêu biểu cho đạo cao chức trọng của nền giáo dục VN. Vua Trần Nghệ Tông đã cho thờ ông ở cạnh Khổng Tử trong Văn Miếu để nêu gương sáng muôn đời cho hậu thế. Thực ra dưới các triều đại phong kiến, hầu như ở tinh nào cũng có Văn Miếu bởi Nho giáo thịnh hành. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là Văn Miếu Quốc Tử Giám và Văn Thái Miếu ở Huế. Toàn bộ quần thể Văn Miếu Quốc Tử Giám thâm nghiêm tĩnh mịch, cây cao bóng cả, râm mát, kiến trúc hài hoà với phong cảnh. Trước Văn Miếu môn tức là cổng chính vào có hai tấm bia „hạ mã“. Xưa kia công hầu khanh tướng gì khi qua đây đều phải xuống ngựa, đủ biết Văn Miếu tôn nghiêm đến nhường nào. Xuyên qua cổng tam quan này, thẳng đường nhập đạo mà xung quanh cây cỏ hoa lá xanh mướt và hai hồ nước chữ nhật hai bên, qua Đại Trung môn là tới Khuê Văn các, kiến trúc tiêu biểu của Văn Miếu Quốc Tử Giám và là một trong những biểu tượng của Hà Nội. Khuê Văn các có nghĩa là gác Sao Khuê, ngôi sao tượng trưng cho văn học nghệ thuật, là một lầu vuông 8 mái xây vào đời vua Gia Long. Gác dựng trên một nền vuông cao, lát gạch Bát Tràng, dáng kiểu khá độc đáo, 4 cạnh sàn chạm trổ tinh vi, 4 mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều có cửa sổ tròn có thanh gỗ trống toả ra 4 phía. Cửa và những thanh gỗ tượng trưng cho sao Khuê toả sáng. Tầng dưới trống không có 4 trụ gạch. Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, hài hoà trong khung cảnh tôn nghiêm u tịch của các cây cổ thụ và giếng Thiên Quang đầy nước soi bóng trời mây. Xưa kia Khuê Văn các vốn là nơi để bình những bài văn hay của các sĩ tử trúng khoa thi Hội. Theo quan niệm cổ, giếng Thiên Quang hình vuông tượng trưng cho đất, cửa sổ hình tròn tượng trưng cho trời. Ý nói tinh hoa của trời đất tụ hội về đây, tôn vinh nền học vấn Khổng giáo. Hai bên tả hữu là hai nhà bia với 82 bia tiến sỹ còn lại từ TK 15 đến giờ. Trước kia còn có toà đình thờ bia, để khi xuân thu nhị kỳ tế lễ trong Văn Miếu thì ngoài này cũng sửa lễ vật cúng bái các vị tiên nho mà cao danh quý tính còn khắc trên bia đá ở đây. Hai vườn bia này chính là di tích có giá trị bậc nhất của cả Văn Miếu. Giờ đây khi đến mùa thi là sĩ tử khắp nơi đổ về sờ đầu các cụ rùa đây để lấy may cho việc thi cử. Ngăn cấm bao nhiêu cũng không được, thậm chí kể cả cho một dọc người chăng dây đứng canh như trên báo đăng mấy hôm rồi cũng không ăn thua. Bước qua Đại Thành môn là đến một sân rộng mênh mông lát gạch Bát Tràng, nơi mà Tết đến có diễn cờ người hay những năm gần đây vào rằm tháng Giêng còn có hội thơ nữa. Cũng bắt đầu phải dăm ba năm rồi. Ồn ào đông đúc lắm. Tham gia cũng đủ thành phần, nam phụ lão ấu, cá nhân, hội đoàn, đại diện thơ của phường khóm, tổ thọ, tổ hưu gì gì đó ầm ĩ vô cùng. Thể loại cũng vô cùng phong phú, đủ loại thơ: hiện đại, cổ truyền, rồi còn thơ có múa phụ hoạ nữa, hoặc bỗng dưng đang trình bày như hát thì thấy lên ré lên thất thần, không lường được. Người ngợm dập dìu, chỗ thì bán sách, chỗ thì những đồ sú vơ nia tầm tầm nếu không muốn nói là vớ vẩn, không khí huyên náo, đúng của „tháng Giêng là tháng ăn chơi“. Thu có thằng bạn hình như hắn nằm trong ban tổ chức những vụ này, rủ đi mà sau về Thu ân hận mãi sao mình lại dại dột nghe hắn vậy. Đó là còn chưa kể đến những vụ loạn cào cào lên vì đạo văn đạo thơ nữa, của nhau. Thế là còn bút chiến cả mấy tháng trời nữa chứ, kẻ thì ra sức thanh minh, người thì cố tình buộc tội. Không ra làm sao cả. Thu vốn là người rất yêu thơ nhưng quen với một không khí thơ khác. Thơ với Thu là một cái gì đó như tẩy rửa tâm hồn, như men, như say… và chỉ để dành cho những tâm hồn tri kỷ chứ không thể bày và rao bán kiểu thế này. Nhưng vốn dĩ là người thấm nhuần dân chủ nên Thu nghĩ chắc họ có lý khi tổ chức những hội thơ kiểu như thế này bởi có cầu thì khắc có cung thôi. Nhưng mà tự cổ chí kim đến giờ chỉ thấy đến „Nhị thập bát tú“ thời Lê Thánh Tông là nhiều thành viên như vậy thôi thì phải, còn thì toàn từng nhóm nhỏ mà thôi. Toà Đại Bái đường rộng lớn và thâm nghiêm chiếm hết cả chiều rộng của sân. Bây giờ thì không thấy nữa nhưng trước kia thường có biểu diễn chèo ở đây cho khách tham quan xem. Thấy Vânchèo kể có lần cùng với Uli vào xem thì gặp bạn cùng đoàn năm xưa đang í a ở đây. Vânchèo xấu hổ với chồng quá vì thấy các bạn xin tiền chồng mình sau khi diễn xong. Cuộc sống diễn viên có khổ quá không để phải làm như vậy hay đây chính là vấn đề nhận thức nhỉ. Nhưng mà „Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi“. Làm sao mà mình có thể phán xét được nếu như chính mình không ở trong hoàn cảnh đó nhỉ. Song song với Đại Bái đường về phía sau chính là Thượng điện thờ các vị tổ sư của đạo Nho là Khổng Tử và Tứ Phối (NhanTử, Mạnh Tử, Tăng Tử và Tử Tư) và thập vị triết gia như Trang Tử, Bốc Tử… Sau lưng Thượng điện chính là đền Khải Thánh thờ phụ mẫu của Đức Khổng Tử, nằm trên khuôn viên mà xưa kia là Quốc Tử giám. Năm 1946 Pháp đã nã đại bác phá huỷ không còn lại một kiến trúc nào. Khu Thái Học ngày nay kiến trúc hoàn toàn mới. Tuy vậy, nhưng hình như cả đoàn ai cũng vào đến Đại Bái đường là đã thấy ra ngồi thở chờ nhau rồi, ít người vào đến tận Thượng điện lắm. Trong Đại Bái đường có một con hạc đồng rất đẹp, Thu bắt Lê và Hiên đứng đó để Thu „sáng tác“ và khoảng tiếp giáp nối ra Thượng điện có một lò hương to có hai quai là rồng chạm tư thế uốn lượn trông rất sống động và thanh thoát, rất đẹp. Tà tà thả bộ ra cổng thì xe Sáu và Kim vừa đến nơi.

Từ đó lên chùa Một Cột đâu có xa nên chỉ mươi phút là tới. Qua khu các sứ quán, Thu có chỉ cho các bạn Đức đại sứ quán của CHLB Đức. Không đúng giờ, đúng ngày hay là độ này đã đỡ hay sao mà không thấy chen lấn xếp hàng rồng rắn lên mây chờ phỏng vấn hay lấy visa sang Đức như trước kia nữa. Cũng may cho những người cần lấy chiếu khán chứ không như trước kia thì kinh khủng quá. Hay là rút lui vào „dịch vụ“ hết nhỉ? Là một ngôi chùa độc đáo nhất Việt Nam, Diên Hựu tự hay Liên Hoa đài hay gọi nôm na là chùa Một Cột được xây dựng từ thời Lý sau một giấc mơ của nhà vua thấy mình được Phật Bà Quán âm ngồi trên toà sen dắt tay lên. Tỉnh giấc ngài bèn kể lại cho bày tôi nghe và được nhà sư Thiền Tuệ „tư vấn“ nên dựng chùa, dựng cột đá làm toà sen như trong chiêm bao để các nhà sư sẽ đi vòng quanh chùa tụng kinh chúc phúc, cầu trường thọ cho vua, vì vậy chùa có tên là Diên Hựu. Chùa chỉ có một gian nhỏ trên cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu trồng đầy hoa sen, nằm trong một khuôn viên hoa lá rất đẹp. Nhưng bây giờ chùa nằm sát bảo tàng Hồ Chí Minh, ngay chỗ gửi xe của bảo tàng nên nhốn nháo ồn ào chứ không u tịch như xưa nữa. Tuy thế, hình dáng thanh thoát độc đáo như bông hoa sen vươn lên từ hồ nước của ngôi chùa gỗ nhỏ bé dựng trên cột này, với những mái cong vút lên trời xanh giữa một không gian xanh mượt mà hoa lá vẫn luôn nằm trong trí nhớ của người Hà Nội và của cả những người yêu Hà Nội, và mãi vẫn là điểm quyến rũ của những ai mong muốn một lần đặt chân đến Hà Nội. Mọi người chụp ảnh quá trời. Thu và Susanne lại chụp cùng nhau một tấm để kỷ niệm chuyến du hí 11 năm trước của Bettina, Susanne và Thu. Đến những nơi nào đã từng có dấu chân của cả ba là đều được chụp lại, nhắc nhở kỷ niệm. 11 năm trôi qua quá mau. Có những việc, những sự kiện mà nhiều khi chỉ tưởng như ngày hôm qua, hôm kia hay mấy tuần rồi mà thôi. 11 năm bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Tan hợp hợp tan. Đời người nhanh thật.

Thả bộ có một đoạn thôi là ra đến lăng Bác. Phía Nam và phía Bắc của lăng có hai rặng tre xanh mát, loại cây có thể gọi là tiêu biểu của các làng quê Việt Nam. „Nước VN xanh muôn ngàn cây lá khác nhau, cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa. Tre Đồng nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi, đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn…“. Đoản văn „Cây tre VN“ của Thép Mới từ năm nào đến giờ Thu vẫn thuộc lòng, không hề vấp váp bởi đó là một trong những áng văn xuôi mà như thơ, lời văn trau chuốt, cực đẹp. Không có nhiều thời gian nên cả hội chỉ thả bộ trước lăng, ngắm nhìn và chụp ảnh từ bên ngoài mà thôi. Trước kia, đây là vườn hoa Ba Đình, nơi mà mùng 2/9/1945 Tuyên ngôn Độc lập đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc, công bố với toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày còn bé đây là đoạn đường rất thân thuộc với Thu vì hàng tuần bố mẹ vẫn chở hai anh em lên thăm cô chú của Thu ở Thuỵ Khuê và cũng có thời kỳ bố làm việc ở phủ Thủ tướng, ngay bên vườn hoa Ba Đình lịch sử này. Đó là những ngày bố mẹ Thu mới trùng phùng sau khi tiếp quản Thủ đô, bố thì ở Việt Bắc về, mẹ thì ở Nghệ An ra. Thế mới biết Cụ Hồ quá giỏi bởi trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng đó Cụ đã tập hợp được mọi lực lượng để chỉ hướng về một mục tiêu duy nhất là thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp, tất nhiên cũng bởi đó là lòng mong muốn thực sự của người dân VN trong bao năm trời tranh đấu. Cả thế hệ đó đã hưởng ứng lời kêu gọi của Cụ, từ những nhà tư sản, tư bản, quan lại, trí thức, nhân sĩ yêu nước… đều cùng chung sức chung lòng và cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trước sau Cụ là vĩ nhân của dân tộc Việt Nam. Điều này không ai có thể phủ nhận dù chính kiến có khác biệt đi chăng nữa thì đó vẫn là một sự thật hiển nhiên. Các đánh giá cần phải xác đáng và nghiêm túc. Không nên vì một quyền lợi chính trị nào mà thiếu đi sự nghiêm túc cần thiết. Cái cần nhìn thấy là cái Cụ đem lại cho đại đa số người dân VN và đó là điều cốt yếu cơ bản của một dân tộc: sự độc lập, tự do. Chứ trong một cuộc cách mạng tất nhiên phải có thương tổn, mất mát, thiệt thòi thậm chí sai lầm. Điều này không thể nào tránh khỏi. Cụ xứng đáng được nằm trong lăng nhưng theo Thu lăng quan trọng nhất là lòng dân. Khi sống trong di chúc Cụ có muốn bày vẽ thế này đâu. Tại sao ta lại không theo sở nguyện của người đã mất nhỉ. Nhất là một người đã cả cuộc đời vì dân vì nước như vậy. Tại sao lại không tôn trọng ý muốn cuối cùng của Cụ, ngày ấy Thu cứ tự hỏi mãi mình như vậy. Thu còn nhớ ngày 3/9/69 là Thu đang ở ngày khai giảng lớp 6 dưới trường Hoàng Văn Thụ dưới Minh Khai. Trời mưa tầm tã. Cả đất nước đau xót “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa“ mà. Nhưng không hiểu sao Thu không thấy phải khóc như mọi các thiếu niên khác trong những ngày đau buồn của cả nước như vậy. Hay là không „giác ngộ“ đủ nhỉ. Chả hiểu thế nào. Xung quanh khóc cả mà mình không khóc được nó cũng thế nào ấy chứ. À, về vườn hoa Ba Đình với Thu có kỷ niệm rất đáng nhớ là rất nhiều lần bố Thu lên chú về khuya, qua đó bố toàn bắt được cà cuống, có khi cả vài con ấy, cho mẹ ướp vào lọ muối để dành. Khi ăn bánh cuốn hay bún thang thì lấy cái kéo to đùng ra mà chỉ nhen nhén cắt chút xíu vào bát nước chấm thôi cho thơm. Mùi thơm của cà cuống nó thanh tao, bẻ bai lắm chứ không phải như cái loại cà cuống hoá chất bây giờ đâu cứ nồng hắc xộc lên mũi thế nào ấy. Lại nói đến cà cuống mới thấy ngôn ngữ nó có sự dịch chuyển theo thời đại ghê gớm. Từ trước đến nay, cà cuống chỉ có mỗi một nghĩa là con cà cuống mà thôi. Chứ lần đầu tiên, khi Thu về nước mà nghe ở nhà nói về một em nào đó muộn chồng đang „cà cuống lắm“, hay hơn nữa một cô nào đã khó lấy chồng lại còn kênh kiệu thì đã „Đội Cấn“ lại còn „Yết Kiêu“… hay cần nói một việc không sao đâu thì là „vô tư đi“ chẳng hạn, là Thu khó chịu lắm, dù nghe nhiều thì thấy cũng ngồ ngộ. Thế mới biết ở đời dù khó chịu đến đâu rồi cũng quen được hết. Thế mới gọi là sức chịu đựng của con người là gần như không có giới hạn. Lăng Hồ Chủ Tịch được chính thức khởi công vào ngày 2/9/1973 và hoàn thành cũng khoảng tháng đó năm 1975. Khi ấy Thu ở nước ngoài nên không biết. Khi về nước, quảng trường Ba Đình quen thuộc cả một thời thơ bé đã được thay thế bằng lăng to lớn, tôn nghiêm và hoành tráng này. Nhưng không hiểu sao Thu lại nhớ mãi việc để trưng cầu ý dân, khoảng năm 70 ở triển lãm Tràng Tiền có triển lãm về mô hình lăng rất lâu, cả nhà Thu có đi xem. Ngày ấy cả Hà nội hình như chỉ có mỗi triển lãm Tràng Tiền và Hàng Bài thôi thì phải, chứ không phải như bây giờ „trăm hoa đua nở“ được như thế này, nói không quá chứ hầu như phố nào chả có, ở những phố trọng điểm thậm chí còn vài cái galerie là thường và đề tài để triển lãm cũng vô cùng phong phú chứ không như ngày xưa, chủ yếu là triển lãm các biện pháp truyền thông cổ động, tất nhiên cũng có các hoạ phẩm của các hoạ sỹ cách mạng, và dĩ nhiên cũng nhằm phục vụ chủ yếu cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ thắng lợi. Điều đó cũng là tất yếu thôi. Có rất nhiều việc ta hoàn toàn không thể dùng con mắt của thời nay để phán xét lại một thời đã qua. Hoặc nếu muốn thì phải hết sức công tâm và cố gắng đặt mình vào giai đoạn đó, thời điểm đó. À, tại sao việc xây lăng này chỉ có ở các nước XHCN nhỉ. Hình như chưa thấy một nguyên thủ quốc gia của một nước tư bản nào sau khi chết đi lại xây lăng cả. Có gì khác biệt không nhỉ về quan niệm hay chỉ là những sự ngẫu nhiên mà thôi?

Bên kia quảng trường lăng, không xa là khu di tích Hoàng thành Thăng long mới được phát hiện trước đây khoảng chục năm. Mùa thu năm 1010 sau khi công bố „Thiên đô chiếu“, Lý Công Uẩn cùng các quần thần gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của kinh thành Thăng Long. Đầu 1011 thì hoàn thành, theo mô hình „tam trùng thành quách“ là: vòng ngoài cùng là La thành hay còn gọi là Kinh thành, nơi cư dân sinh sống, rồi đến Hoàng thành và trong cùng là Tử Cấm thành hay còn gọi là Long Phượng thành là nơi ở của vua và hoàng hậu, cung phi. Ngay từ những ngày đầu xây dựng, khi mới định đô Thăng Long, Lý Công Uẩn đã khởi công xây rất nhiều cung điện tráng lệ bên trong Hoàng thành. Hoàng thành đắp bằng đất gồm có 4 cửa: Tường Phù ở phía Đông mở ra khu buôn bán sầm uất ở phường Giang Khẩu, đền Bạch Mã; cửa Quảng Phúc mở ra phía Tây có chùa Diên Hựu và chợ Ngọc Hà; cửa Đại Hưng gần cửa Nam hiện nay và cửa Diệu Đức mở ra sông Tô Lịch, đường Phan Đình Phùng bây giờ. Cung điện Càn Nguyên là nơi thiết triều đặt trên núi Nùng, tức núi Long Đỗ nằm giữa thành. Trong tâm thức và tâm linh, những người Việt cổ sống ở nơi này thì cao điểm này là nơi hội tụ khí thiêng đất trời, là chốn tiếp giao giữa thần và người. Trên đỉnh núi Nùng có một cái huyệt rất sâu, thông từ đỉnh núi xuống tận âm ty địa phủ có một con rồng khổng lồ đang khoanh cuộn nằm ngủ. Vì vậy mới có tên là Rốn Rồng tức là Long Đỗ vậy. Vào thời Lê thì điện Càn Nguyên được đổi tên thành điện Kính Thiên. Trải qua bao thăng trầm của thời gian, binh biến khói lửa, loạn lạc chiến tranh, Hoàng thành với biết bao cung điện mỹ lệ, lầu son gác tía… đã bị vùi sâu dưới lòng đất và dĩ vãng. Việc tìm được di chỉ khảo cổ này quả là một sự may mắn lớn cho dân tộc VN chúng ta, trên nhiều phương diện. Khu di tích này chỉ nằm bên kia quảng trường Ba Đình vậy mà rồi thời gian của chương trình rất khít khao nên đành vậy, cả hội lên xe thẳng tiến lên phủ Tây Hồ.

Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo, nhô ra giữa hồ Tây, thờ Mẫu Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử trong tâm thức dân gian của người Việt. Có người nói rằng Mẫu Liễu Hạnh chính thực là Quỳnh Hoa công chúa con của Ngọc Hoàng Thượng Đế vì làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần gian, thác sinh vào con nhà thường dân sống cuộc đời bình thường rồi sau đó về trời. Nhưng nhớ trần gian nàng vẫn giáng trần, khi thì để khuyến thiện, trừng ác, khi thì du ngoạn, giáng bút đề thơ… vậy thôi. Tục truyền rằng có lần trạng Bùng Phùng Khắc Khoan được xướng hoạ thi văn cùng cô chủ quán xinh đẹp của tửu lâu „Tây Hồ phong nguyệt“ bên hồ Tây này. Ít lâu sau quay lại thì đã

„ Cảnh xưa người cũ đà đâu tá

Chỉ thấy hoa đào mỉm gió đông“

và nơi tửu lâu xưa chỉ còn thấy mênh mang sóng nước… Chắc nàng lại đã giáng trần du hí nơi đâu.. Các bạn Đức đều rất lấy làm thú vị về những truyền thuyết mỗi khi nghe Thu kể, từ sự tích trâu vàng hồ Tây, đầm Xác Cáo với con hồ ly chín đuôi… lần nào cũng nắc nỏm nói sao VN lắm truyền thuyết huyền thoại thế. Trên đường vào phủ, thì qua chùa Kim Liên u tịch thanh tịnh nằm giữa một vùng sen bát ngát, mùa hạ hương sen toả ngào ngạt. Nghe nói rằng xưa kia đây là đất của cung Từ Hoa bởi công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông đã đem cung nữ đến đây lập trại, trồng dâu nuôi tằm nên nhà vua cho dựng cung Từ Hoa ngay trong trại Tàm Tang này để công chúa sống. Lâu dần, vùng này được gọi là Nghi Tàm. Nguyên thuỷ chùa có tên là Đại Bi và là nơi ái phi Đặng Thị Huệ của Chúa Trịnh Sâm hay đến lễ bái. Để làm hài lòng nàng, chúa đã cho dỡ nhiều chùa trong kinh thành mà tu bổ cho chùa này và đổi tên chùa thành Kim Liên. Đây là ngôi chùa độc đáo nhất Hà Nội vì kiến trúc của nó là kiến trúc phổ biến ở Đàng Trong. Người ta cho rằng có lẽ vì khi trùng tu ngôi chùa, vua Quang Trung đã mời một số thợ từ Đàng Trong ra, chứ nếu không vì sao nó khác hẳn những ngôi chùa khác ở Thăng Long. Vậy mà rồi chẳng vào được phủ cũng như vào chùa vì đường thì hẹp, xe cộ nườm nượp „Ngựa xe như nước áo quần như nêm“ mà. Chạy vào được một đoạn thì thấy người ở trong chen được ra cảnh báo là đông lắm, không có chỗ đỗ, không quay đầu được đâu. Cả hội sợ quá, nhỡ tắc tị ở trong đó thì chết dở. Ra không xong mà vào cũng chẳng được. Thế là quyết định khẩn cấp quay ra ngay vì may mắn là chỗ này còn có một cái cổng để quay đầu xe được. Mà cũng vô cùng khó khăn vì người đông như kiến, cãi lộn cãi lạo tùm lum cả. Thôi thôi, „ Chắp tay lạy thánh nhân trời đất“ thôi. Xe ra được đến đường cái nhẹ cả người.

Lâng lâng trong lòng cả hội ghé chùa Trấn Quốc. Hồ Tây từ xa xưa đã là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội, nằm trên bán đảo Kim ngư. Mặt hồ bát ngát mây nước hữu tình. Bởi sương khói bảng lảng che phủ mỗi sáng chiều nên hồ còn có tên nữa là hồ Dâm Đàm. Quanh hồ còn có bao di tích văn hoá lịch sử nổi tiếng như làng Nghi Tàm quê của Bà huyện Thanh Quan có chùa Kim Liên, làng Nhật Tân trồng đào, quất, kẻ Bưởi có nghề làm giấy dó, Xuân Đỉnh với đền Sóc thờ Thánh Gióng, làng Xuân La có Thiên Niên cổ tự thờ tổ của nghề dệt lĩnh là bà Phạm Thị Ngọc Đô thứ phi của vua Lê Thánh Tông, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ… Xưa kia, quanh hồ là bao lầu son gác tía. Những ngày đẹp trời, vua và các phi tần mỹ nữ dong thuyền rồng đàn hát vang lừng mặt hồ. Vẻ đẹp huyền ảo lãng đãng của hồ Tây mờ sương, ẩn chứa trong mình biết bao huyền thoại, đã là nguồn cảm hứng cho không biết bao nhiêu tao nhân mặc khách của nhiều thời đại. Soi bóng bên hồ Tây đã 15 thế kỷ, chùa Trấn Quốc là ngôi chùa cổ kính vào bậc nhất của Việt Nam với quang cảnh khuôn viên vô cùng diễm lệ. Vì chùa là nằm trên bán đảo trên hồ nên đường vào chùa cong cong nằm trên sóng nước, có hai hàng cau thẳng cao vút. Bảo tháp Lục độ Đài sen 11 tầng trong khuôn viên chùa, giữa cây cối một màu xanh mát mẻ thì màu nâu đỏ của tháp là một sự tương phản vô cùng hài hoà, nhẹ nhõm và thanh thoát. Chùa còn có nhiều cổ vật mà trong đó có tượng Đức Thích Ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy vô cùng giá trị. Trong bảo điện, tượng Phật tầng tầng lớp lớp, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm. Giữa sân chùa có hòn giả sơn lớn. Đáng lẽ sẽ rất đẹp nếu được chăm sóc đàng hoàng. Chứ lúc Thu đang đứng ngắm nghía thì phát hiện ở một góc có một vỏ lon coca cola lềnh phềnh bập bềnh. Chán quá. Không muốn bình luận gì thêm về ý thức giữ gìn nơi công cộng của dân ta nữa. Vãn cảnh chùa Trấn Quốc, lòng ta như rời bỏ được chốn thị thành ồn ào, tất bật, để giữa bốn bề mây nước nghe câu kinh tiếng kệ mà chiêm nghiệm và quán tưởng được sự vô thường, sắc sắc không không của cuộc đời.

Nằm phía bên hồ Trúc Bạch, ngay đầu hồ Tây còn có một ngôi đền nổi tiếng mà không người Hà Nội nào có thể quên được khi đi xa. Đó là đền Quán Thánh, một trong Tứ Quán của đạo Giáo ở đất Thăng Long xưa mà cũng đồng thời là một trong Thăng Long Tứ Trấn. Những đạo quán đều xây dựng vào thời kỳ phát triển của đạo Giáo ở Việt Nam xa xưa, nhưng cũng chỉ hết đời Mạc mà thôi. Sang đến thời Lê Trung Hưng, do đạo Giáo bị suy thoái nên đã bị Phật hoá và các quán biến thành chùa. Bên cạnh tượng các Thánh còn có thêm các tượng Phật. Chỉ có mỗi Trấn Vũ quán, đền Quán Thánh, là còn giữ được bản chất đạo quán, còn lại đều đổi thành chùa cả như Đế Thích quán thành chùa Vua, Đồng Thiên quán thành chùa Kim Cô…chẳng hạn. Sân đền rộng rãi và thoáng mát. Hòn non bộ này Thu đã biết từ những khi còn bé được mẹ cho hai anh em chủ nhật đi chơi đây đó, đền chùa hay đi xem phim ảnh, triển lãm, công viên… „Ngũ thập niên tiền“, đã nửa thế kỷ trôi qua, và bao nhiêu lần biển xanh biến thành ruộng dâu? Bố mẹ Thu đã thành người thiên cổ từ lâu vậy mà kỷ niệm vẫn sống động như mới ngày hôm qua đây còn là đứa trẻ thơ dại ngồi sau xe bố mẹ, ôm lưng và hít hà được hơi ấm của người…Đền nhìn từ sân vào hay từ bên ngoài trông rất giản dị. Nhưng bên trong cung Thánh thì lộng lẫy vô cùng, rực rỡ sơn son thếp vàng. Trong không khí ngào ngạt hương hoa, huyền hoặc khói nhang, ngước lên ta thấy tượng Huyền Thiên Trấn Vũ uy nghi ngồi đó. Tượng ngài bằng đồng đen, được đúc vào năm 1667, cao gần 4 m, nặng khoảng 4 tấn. Đó là hình một đạo sĩ trong tư thế ngồi, y phục gọn gàng, tóc xoã, chân trần, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm thần có rắn quấn quanh và chống lên lưng rùa. Đây là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại VN, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội từ trước đây 3 thế kỷ. Thấy Thu, Đông xoa xoa bàn chân ngài rồi vuốt lên đầu, lên mặt cầu may mắn sức khoẻ như mọi thiện nam tín nữ khác, Conni cũng khoái trí làm theo sau khi nghe giải thích là tục lệ như vậy. Ra khỏi cổng, trong lúc mọi người đứng chờ xe quẹo một vòng để đón thì có hai vợ chồng người mù cũng đã lớn tuổi bán chổi đót đi qua. Vừa thấy thương tâm cho hoàn cảnh của hai bác mà lại vừa cảm phục về lòng tự trọng cũng như sự cần cù của hai người. Trong cả một xã hội vật chất tiêu thụ, sống ào ạt, ăn ào ạt, chơi ào ạt như vậy mà vẫn có những người lao động cần cù, không quản tật nguyền của mình để tranh đấu tồn tại trong tự trọng. Nhiều khi mình luôn tự hỏi, vậy giá trị thực của đời sống ở đâu?

Ai là người Hà Nội mà lại không biết và không nhớ bánh tôm hồ Tây nhỉ. Ngày còn chưa bom đạn hay được ngớt bom đạn, thỉnh thoảng một chủ nhật thanh bình cả nhà được lên hồ Tây ăn bánh tôm sau một ngày dạo chơi công viên, hay mừng bố vừa đi công tác về hay được lên lương, thăng chức chẳng hạn, còn bọn trẻ thì vừa hết môn thi cuối cùng của năm, chia tay nhau nghỉ hè hay sau thi tốt nghiệp để rồi mỗi đứa một phương trời là cũng rủ nhau lên hồ Tây, sinh nhật đứa nào đó nếu gia đình khá giả là cũng được mời bạn bè thân thiết đi bánh tôm hồ Tây… Tóm lại, cả một thời gian khó, bánh tôm hồ Tây là một cái gì đó không thể quên được của người Hà Nội, rất đặc trưng cho Hà Nội. Sau này do đời sống sung túc lên, người ta đã quên dần bánh tôm hồ Tây, bánh tôm Hà Nội, để thay vào đó là tôm bọc bột rán, phồng xồm xộp. Nó cũng chẳng dở, nhưng nó không còn là bánh tôm với hương vị đằm thắm trong ký ức của ta nữa. Những cái bánh tôm vàng ươm, những lát khoai lang thái chân hương vàng suộm giòn tan, những con tôm hồng vỏ phải mỏng mềm nằm trên. Bên cạnh là đĩa rau sống tươi ngon, bát nước chấm chua ngọt trong vắt màu hổ phách với những lát ớt đỏ thắm lững lờ, bánh vừa chiên nóng giòn cắt ra đĩa ăn kèm với đu đu cà rốt tỉa hoa… lại được thưởng thức trong một chiều rượi mát gió hồ Tây thì hỏi còn có cái thú nào bằng? Hôm nay Hiện chiêu đãi cả đoàn vì sắp sửa chia tay với Sáu và Kim và đoàn lại không có thời gian để ghé nhà Hiện ở Hải Phòng thăm được. Chọn hồ Tây để ta nhớ lại được hồi ức về „Một thời đạn bom, một thời hoà bình“. Và được sống lại thật chứ không phải mong ước gì đâu xa. Bởi cô bán hàng vẫn giữ nguyên bộ mặt lạnh như bom, khó chịu, khinh khỉnh y như thể mình đến xin xỏ gì cô ta vậy, đúng như mậu dịch viên XHCN thời bao cấp, thời mà các cô ấy là vua, là hoàng hậu không ngai „quyền sinh quyền sát“. Xếp hàng từ nửa đêm. Gạch, ngói, nón, mũ … gì đó đã được gần đến nơi sau một hồi chen lấn đến bẹp cả ruột ra mà bỗng thấy các cô ấy mặt lạnh như tiền tuyên bố hết gạo, hết dầu, thịt, hay rau muống…chẳng hạn thì cái thất vọng não nề ấy không sao tả xiết. Cho nên mới có chuyện như sau. Ngày ấy xếp hàng mua tiêu chuẩn, mỗi người chỉ đươc mua 2 hào rau muống. Thế bỗng dưng có thằng cha đến lượt mình lại chìa cho cô bán hàng những 8 hào. Cô này không thể hiểu được cái sự „bất tri“ hỗn xược ấy mới hỏi thì thấy gã đứng tại chỗ xướng lên lời một bài ca quen thuộc đã được cải biên “Cho ngày nay, cho ngày mai, cho hai ngày sau“. Thế là vừa đúng 8 hào còn gì. Đoạn kết thì không biết thế nào, gã mua được bao nhiêu, cô bán hàng có bán không… không thấy ai quan tâm nữa. Trở lại chuyện bánh tôm Hà Nội. Trước đây vài năm, một lần ở Sài Gòn nghe thiên hạ kháo rằng quán đó nhiều hàng bánh trái, đồ ăn đặc sản từng vùng miền ngon lắm, đi ăn cho biết. Đến nơi thì quả thật, quán ở ngay trước dinh Độc lập, đông đúc vô cùng, khách khứa chen chúc. Thu thử vài món rồi thì muốn đi một vòng ngắm nghía xem còn gì lý thú nữa không. Đến trước một quầy thấy biển rõ to “bánh tôm Hà Nội“. Thích thú, Thu dừng chân thì thấy, những cái bánh trụi thùi lụi trông hơi giống một quả chuối mắn, là một con tôm nằm trong một bọc bột mì chiên phồng, có duy nhất một cọng khoai lang dài đưỡn, to gần bằng nửa ngón tay út trong cái bánh. Thu không hiểu sao lại ít khoai lang thế mặc dù trong Nam không hiếm hoi gì, hay là họ có nhầm lẫn gì với loại bánh nào chăng, bởi hình thù không giống, chất liệu thì na ná giống thôi nên rất nhã nhặn Thu mới chỉ kịp hỏi chị ơi sao ít khoai lang vậy thì thấy cô ta nhìn xéo Thu, chỏng lỏn trả lời vì ngoài Bắc xưa khổ quá mới phải cho khoai lang vào nhiều chứ không có bột mì như trong này. Chắc vì nghe Thu nói giọng Bắc. Ái chà chà „Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng“. Nhưng cô này cũng nói giọng Bắc và nhìn hình thức lẫn giọng nói thì Thu biết không phải người Hà Nội. Tuy vậy Thu vẫn hỏi „Thế chị quê ở đâu nhỉ?“, thị ấp úng trả lời „Dạ, dạ…em quê ở gần Hà Nội ạ.“ thì Thu lập tức khuyên cô ta nên đổi tên quán là „bánh tôm GẦN Hà Nội“ nhé sau khi rành rọt nói cho thị biết về một cái bánh tôm Hà Nội phải đạt những tiêu chuẩn về hình thức và nội dung như thế nào, và ngày trước Hà Nội phải ăn độn bột mì cũng như khoai lang, sắn…nên cách giải thích của thị là hoàn toàn vô căn cứ. Ngày ấy thì đắc chí lắm vì nghĩ là đã trị cho „con ranh láo toét“ một trận nhưng bây giờ mới thấy phỏng việc ấy có ích gì. Nếu thấy người hay việc không hợp ý thì đi, không ăn hay không tiếp xúc nữa, hơi đâu cứ phải bực mình vì những việc giời ơi đất hỡi như vậy, tổn thọ mà mình có thay đổi được gì đâu. Bánh tôm Hà Nội ở ngay tại quê cha đất tổ của nó còn khác hoét thế này thì cách tận hai nghìn cây số như thế âu cũng là điều dễ hiểu thôi mà. Thế biết thêm mỗi tuổi, người ta ngộ ra nhiều điều lắm. Nên nhiều khi cả hội cứ đùa nhau bảo ước gì trở lại được nhan sắc và tuổi trẻ của cách đây ba chục năm nhưng mà đầu óc nhận thức thì phải như bây giờ. Chết người không cơ chứ. Có ai cưỡng lại nổi „Quy luật của muôn đời“?

Chiều đã muộn, trên đường quay về, xe ghé thăm Nhà thờ Lớn Hà Nội. Những ai đã từng đến Paris đều sẽ thấy ngay ngôi thánh đường lớn nhất ở Hà Nội này là theo mẫu của Notre Dame rất nổi tiếng với tác phẩm „Thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris“ của đại văn hào Pháp Victor Hugo. Kiến trúc gôtik Trung cổ châu Âu, rất được thịnh hành vào thế kỷ 12 và thời kỳ Phục hưng. Các mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên bầu trời, tất cả các cửa và toàn bộ cửa sổ đều là những bức tranh thánh bằng kính màu rất đẹp hài hoà tạo ra nguồn sáng tự nhiên bên trong lòng nhà thờ. Nhà thờ Lớn là nhà thờ Chính Toà của Tổng Giáo phận Hà Nội. Nhưng ít ai biết rằng Nhà thờ Lớn được xây trên chính nền của chùa Báo Thiên, ngôi quốc tự có từ thời nhà Lý và trong suốt các triều đại về sau như Trần, Lê, Nguyễn chính là nơi diễn ra các nghi lễ Phật giáo cầu cho quốc thái dân an. Sau vì trải qua thời gian và chiến tranh mà đổ nát hoang tàn thì giáo hội chiếm dần, từ một nhà thờ bằng gỗ nhỏ, đã được mở rộng xây cất dần để lễ Giáng sinh năm Đinh Hợi thì khánh thành và được tôn phong là Nhà thờ Lớn Kính Thánh Giuse, vì đó là tên vị Thánh được Giáo Hoàng tôn phong làm Thánh Bảo trợ Việt Nam. Ngày xưa, ở phố Nhà Chung bên cạnh có hàng bún ốc ngon nổi tiếng. Thu và đám bạn bè rất hay lượn lờ ở đây. Bây giờ khu này chủ yếu cho khách du lịch nên sang trọng ra nhiều, khắp nơi là các phòng tranh và cửa hàng bán đồ lưu niệm với những giá cả chắc chắn chỉ dành cho người ngoại quốc, mà cứ với người ngoại quốc là phải „chặt chém“ rồi vì „đương nhiên“ là họ giàu hơn, Việt kiều còn bị „giết“ đến mức không thương tiếc nữa là. Quan điểm chung là như vậy chứ có biết đâu nhiều khi Việt kiều ở nước ngoài thì ăn trợ cấp xã hội (theo lời NNNgạn viết „Trong cơn gió lốc“ là „nằm phơi củ cải“) rồi đi làm chui, vài ba năm gom góp „Áo gấm về làng“ để „nổ“ hay ngoại kiều thường thì cũng là những người lương bổng rất eo hẹp dành dụm để đi du lịch vậy thôi.

Xe chở cả đoàn về khách sạn. Ngày đầu tiên tham quan Hà Nội với biết bao nhiêu danh lam thắng cảnh, biết bao nhiêu ấn tượng về phong cảnh với cuộc sống con người Hà Nội. Tuy hơi mệt mỏi nhưng chỉ tắm rửa, thay quần áo, nghỉ ngơi chút xíu là cả hội lại hẹn nhau đi chơi đêm để biết đêm Hà Nội có khác gì không với đêm Sài Sòn, đêm Nha Trang, Buôn Mê Thuột, đêm Hội An, Huế… Đêm Sài Gòn ồn ã, nhộn nhịp, vô tư, đầy sức sống. Đêm Buôn Mê Thuột hoang vu và dữ dội. Đêm Nha Trang mặn nồng phóng khoáng. Đêm Hội An vời vợi, huyền ảo lung linh. Đêm Huế đượm tình trăng nước cố đô, có gì đó não nề chơi vơi. Còn đêm Hà Nội? Đêm Hà Nội sâu lắng đến từng hơi thở, đêm Hà Nội khát khao quặn lòng nhớ nhung, đêm Hà Nội day dứt, bồn chồn…

Đi bộ từ phố Huế, suốt Hàng Bài lên Tràng Tiền, Hàng Khay thì gặp hội Elke, Conni, Bettina, Heike, Susanne vừa đi bát phố về. Hý hửng vì cả hội mua được quà cáp cho bạn bè, người thân cả. Khoe um sùm. Conni mua được túi du lịch, Elke mua được áo thì phải. Còn Heike và Bettina thì khi sang Đức, đến học nấu ăn ở CLB thì diện mỗi người một T-Shirt màu đen, trên ngực có dòng chữ I love PHO (phở chứ không phải là…) để gây ngạc nhiên cho Thu (cũng may là cả hai đều là phụ nữ chứ không thì nguy hiểm qúa về vụ dấu diếm của tiếng Việt nhỉ). Từ nhiều năm qua, câu lạc bộ một năm xuân thu nhị kỳ có hai đợt dạy nấu ăn bếp Việt cho quận, thành phố thông qua trường đại học cộng đồng. Đối tượng chủ yếu là các bạn bè người Đức nhưng có khi có cả người Anh, Pháp, Mỹ, Bỉ, Hà Lan…thậm chí cả Thổ và Trung Quốc cũng có. Vui lắm. Bạn bè, vợ chồng rủ nhau đi hay là bạn gái bạn trai tặng nhau một khoá học bếp Việt với Thu cho người có sinh nhật, con cái tặng bố mẹ nhân dịp kỷ niệm đám cưới vàng bạc gì đó. Có những gia đình từ con gái con rể mẹ vợ đều học và học rất nhiều khoá. Bettina và Heike là hai bạn gái thân rủ nhau đi học từ bấy đến giờ cũng đã là khoá thứ tư rồi mà vẫn chưa phải là học viên lâu năm nhất đâu. Họ thích nhất không phải chỉ ở mỗi món ngon của bếp Việt mà họ học được đâu mà chính là ở không khí thân mật và ấm áp gia đình mà họ được tham dự. Chính Bettina và Heike là hai người bạn Đức làm quen và trở nên thân thiết với câu lạc bộ qua những khoá nấu ăn như vậy đó. Để đóng góp vào cuộc sống Đa Văn hoá của Berlin, ASIATICUS-VINAPHUNU không phải chỉ thường xuyên có mặt với các quầy thông tin, các bản tham luận, các triển lãm… trong các hội thảo, các diễn đàn hay các buổi trình diễn điêu luyện của Xinh. Company trong các ngày hội của thành phố, của quận.. mà từ những công việc nho nhỏ, thiết thực và hữu hiệu như vậy. Bát phố chán cả hội rủ nhau vào cà phê Hoa Lan ở PSM là một nơi quen thuộc Thu hay ngồi với bạn bè mỗi khi thích đàn đúm đâu đó. Với lại cô chủ quán đó hỏi ra thì mới biết trước kia cùng phố và ở ngay trước cửa nhà Thu nên chuyện trò cũng thân tình vì tuổi tác cũng xêm xêm. Gọi điện tứ tung cả thế là gần như cả hội lại tụ tập đây với nhau đêm nay. Ngày mai chia tay với Sáu và Kim rồi nên Lêchen đãi cả nhà. Ly cốc chạm nhau côm cốp để thay cho lời biệt ly. Sáu trầm ngâm nói rằng „Cả đời người khó có khi gặp được một chuyến xe như dzầy chị ạ“. Để khoả lấp sự cảm động dâng lên mắt lên môi, Thu biết không chỉ mỗi mình mà cả Sáu và nhiều người khác phải nâng cốc lên uống ực. Mình còn duyên thì còn gặp lại nhau mà Sáu và Kim ạ. Tất cả mọi người đều sẽ rất nhớ Sáu và Kim, không chỉ mỗi khi nhớ đến chuyến đi tuyệt vời này đâu bởi bản chất của mỗi cuộc viễn du chính là sự tìm hiểu làm quen với đất nước con người và qua đó ta tìm được sự cảm thông của đồng loại, của thiên nhiên. Mọi người về trước, khi Thu về đến hàng ốc luộc trước nhà cậu Chiến mà mọi người đang tụ tập ở đó thì gặp Xuân Bắc và vợ con hình như cũng đang ghiền ốc luộc ở hàng bên cạnh. Định lấy máy ảnh trong túi ra để chụp ảnh kỷ niệm với nghệ sỹ thì Thu phát hiện ra túi xách để quên ở quán mà kinh nhất là ở ngoài hè vì lúc ấy ngồi đó. Cũng dễ cả mười lăm, hai mươi phút rồi, không biết người ta dọn hàng chưa? Có nhìn thấy túi không? Trong ấy nhiều tiền vậy liệu nếu thấy có chịu trả không? Xuân Bắc cười bảo chị đừng lo, không mất đâu. Sáu bấm độn bảo không mất đâu chị ạ. Thu gọi di động ngay cho

„Người đàn ông âm thầm bên ly rượu

Nhói tim ta cho đến tận cuối đời“

ấy bảo quay ngay lại quán hỏi cho Thu. Cậu Chiến vội vàng lên xe chở Thu đến quán. May, đến nơi đã thấy „Người đàn ông cô độc bên thềm“ này vì là khách quen của quán đang mặt mũi lạnh tanh vào tận trong phòng cất đồ hỏi thì mấy cậu kia mới thò ra trả ngay, còn leo lẻo bảo cô đếm đi chứ vẫn nguyên xi đấy cô ạ, chúng cháu chả nhìn thấy gì. Thở phào vì may mắn. Khi quay lại chỗ ốc luộc mọi người vẫn đang bù khú với niềm tin là Thu không bị mất túi đâu nên Thu lại chúi đầu vào cùng mọi người xử lý ốc tiếp. Lâu quá rồi mới lại được ăn bữa ốc ngon thế này. Mà có lẽ ngon hơn nữa chính bởi cái sự „Châu về Hợp Phố“ kia là chính. Đêm Hà Nội man mát sương khuya, lặng lẽ… Ngày mai còn cả một ngày công vụ bề bộn với 4 cuộc hẹn làm việc… Khách sạn ở ngay cạnh rạp Đại Nam đang phá đi xây lại thế nào đó nên ầm ầm cả đêm. Bực mình hết sức nhưng không nói được ai. Mấy cậu bé ở quầy tiếp tân thì bảo cô thông cảm vì họ xây dựng cô ạ. Đã đành là xây dựng rồi, nhưng sao lại ban đêm nhỉ. Nằm miên man nhớ lại hồi cô Vân Như của Thu còn là sinh viên trường Y, cô xinh lắm và có tiếng là hát rất hay, thường xuyên đi hội diễn thanh niên, sinh viên. Và Thu rất hay được cô cho đi theo, cứ nấp sau cánh gà thập thò nghe cô hát. Và Thu không hiểu sao nhớ rất kỹ rằng có một lần ở rạp hát Đại Nam này là cô hát bài „Trăng lên đùa cành tre, tiếng ru hời, tương lai tựa vầng trăng, bé ngủ ru à ơi“ rồi đến cao trào „ Nhưng miền Nam mây phủ bầu trời, che vầng trăng cho dạ bời bời…“Có những kỷ niệm ngày thơ bé mà bao nhiêu năm qua ta vẫn nhớ như in dù con bé ngày xưa cứ lẽo đẽo theo cô đi khắp nơi giờ đã qua tuổi thanh xuân lâu lắm rồi và cô cũng đã thành bà nội bà ngoại từ lâu. Nhưng giọng hát trong vắt của cô và những buổi hội diễn những ngày xưa vẫn sống động trong ký ức của cháu, cô ạ.

15/3

Hôm nay là một ngày sẽ có rất nhiều sự kiện, mà có lẽ là những công việc chính của cả chuyến đi dồn vào ngày này. Mọi người dậy sớm quần áo tề chỉnh son phấn đàng hoàng lên đường. Hôm nay Sáu và Kim sẽ lên đường Nam tiến sau khi đưa đoàn đến Báo Phụ nữ VN làm việc. Hoàn đãi buổi ăn sáng này để chia tay với Sáu và Kim. Xe chạy lòng vòng mãi vẫn không tìm ra chỗ ăn sáng mà để có chỗ xe đậu được, lại còn sợ lỡ hẹn của Báo PN lúc 10 giờ nữa chứ nên cuối cùng phải tìm về mạn gần đó cho có thể cả hội cùng ăn sáng được rồi đi ra Báo thì cũng gần, không sợ trễ giờ. Thế là xe chạy dọc theo đường Lò Đúc thì tìm được một chỗ đỗ tạm, cả hội nhào xuống, và phải tản ra ngay chứ không thể từng ấy nhân mạng vào một quán được. Thế là người thì bún, phở, người thì bánh mì kẹp thịt hay bánh bao… Đông quá nên Hoàn đặt bún ngan thì lại phải ăn tô phở gà vì đã lỡ mang ra rồi. Lên xe, chở đoàn ra đến Báo PN thì Sáu và Kim chia tay với mọi người về Nam. Không kịp bịn rịn nữa vì đoạn đường đó không cho cái xe bus kềnh càng này đỗ mà mình thì cứ dừng đại để xuống chứ không đường một chiều cứ loanh quanh mãi vì Sáu và Kim không rành đường HN. Nhưng cuộc chia tay „đẫm nước mắt“ đã diễn ra từ tối qua rồi, những lời cần nói cũng đã nói từ tối qua hết rồi nên mọi người ào xuống chỉ kịp cầm tay Sáu và Kim chúc quay về Nam an toàn là bus đã phải chạy ngay. Vào đến báo PN là vừa đúng giờ hẹn. Tất cả được mời lên phòng tiếp khách và Tổng Biên tập Nguyễn Thục Hạnh cùng các phóng viên đã đón chờ đoàn ở đó. Buổi gặp mặt diễn ra trong bầu không khí tin cậy và cởi mở. Thu giới thiệu sơ lược về công việc của VINAPHUNU trong suốt gần 2 thập niên qua, về mục đích và về lộ trình của chuyến đi. Tổng Biên tập nói qua về công tác , nhiệm vụ của Báo cũng như những hoạt động mà về tương lai VINAPHUNU có thể cộng tác với báo được chăng? Sau đó, đoàn trao tặng số tiền CLB quyên góp được nhân dịp triển lãm „Tranh chữ và ông đồ“ vào Tết năm ngoái 2009 cho các nạn nhân bị chất độc da cam thông qua báo PN. TBT Thục Hạnh là một phụ nữ trẻ, duyên dáng và rất thân tình. Nhìn chị khó ai nghĩ được là một người PN trẻ trung à la mode kia lại chịu một trọng trách là Tổng Biên tập không những Báo PNVN- người phát ngôn chính thức của Hội Liên hiệp PNTW- mà còn là Tổng Biên tập của 3 tờ báo nữa là “Hạnh phúc gia đình“, „Thế giới PN“, “Women of VN Review“. Sau khoảng gần 1 tiếng đồng hồ trao đổi và chia sẻ, đoàn chụp ảnh kỷ niệm và rời Báo cùng TBT Thục Hạnh đi bộ sang Hội Liên hiệp PNVN bởi trụ sở của Hội toạ lạc cạnh đó chỉ khoảng trăm mét.

Đúng 11 giờ, đoàn được chị Nguyễn Thị Thanh Hoà- Hội Trưởng Hội LHPNVN-cùng chị Trần Thị Lan-Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng Ban Tổ chức- chị Đức Hiền-Phó Ban Đối ngoại và Quốc tế- và Thanh Dung- cán bộ của Hội- (mà sau này vì số phận đưa đẩy chúng tôi phải quan hệ với nhau nhiều) tiếp đón rất nhiệt tình. Tất nhiên là có sự tham dự của TBT Báo PNVN Nguyễn Thục Hạnh cùng các phóng viên để viết bài nữa.“Đây là phòng đẹp nhất của Hội đó“, rất mộc mạc và chân tình chị Thanh Hoà nói với chúng tôi như vậy khi cả đoàn đã ngồi yên vị. Cũng như những lần trước, Đức luôn phải ngồi giữa các bạn Đức để dịch cho thuận tiện. Thu trình bày, trong một bối cảnh mà văn hoá xã hội chính trị của Đức rất phức tạp đó là việc bức tường Berlin bị phá vỡ cùng với sự thống nhất giữa hai nhà nước Đức khi đó thì sự ra đời của VINAPHUNU như là một sự tất yếu để bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ VN nói riêng và cho người Việt nói chung. Trong gần 20 năm qua, là một tổ chức tư vấn, đào tạo đồng thời là trung tâm văn hóa xã hội, VINAPHUNU đã ngày càng thành công và có uy tín đối với Chính phủ Bang Berlin cũng như trong cộng đồng người Việt. Nhân đây, chị Thanh Hoà cũng chính thức cám ơn rất nhiều sự ủng hộ, tài trợ trong suốt 2 thập kỷ qua của chính phủ Tiểu Bang Berlin đối với VINAPHUNU và hy vọng trong tương lai vẫn nhiệt tình giúp đỡ với PNVN như vậy. Rất ấn tượng về những hoạt động cũng như những thành công mà VINAPHUNU đạt được, chị Thanh Hoà đã cho rằng một mô hình như VINAPHUNU rất cần được nhân rộng lên ở nhiều nước có cộng đồng người Việt lớn và chị cũng khẳng định rằng, phụ nữ VN ở nước ngoài là một bộ phận của PNVN. Bởi vậy chị rất vui mừng khi biết có những tổ chức như VINAPHUNU ở Berlin luôn có những hoạt động phong phú như vậy không chỉ dành cho PNVN trong việc hội nhập vào XH Đức để có cuộc sống ổn định mà còn đóng góp rất nhiều cho cuộc sống Đa Văn hoá của Berlin nói riêng và của Đức nói chung với tư cách là một sứ giả VHVN. Chụp ảnh kỷ niệm xong chị em còn lưu luyến mãi chào hỏi hẹn hò nếu các chị sang Berlin thì nhớ ghé thăm VINAPHUNU. Ấn tượng về sự thân mật như chị em trong một nhà của các chị bên Hội cũng như của TBT Nguyễn Thục Hạnh làm chúng tôi ấm lòng mãi.

Ra khỏi cửa, xe bus mới do cô Tường chu đáo thuê đã đứng chờ trước cửa Hội để chở cả đoàn đi tiếp đến cuộc hẹn tới ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Đúng là đi trong thành phố chỉ có xe bus này mới cơ động được chứ như xe to kia là chỉ để cho đường dài đường xa mà thôi. Đúng như hẹn 13 giờ bus tiến vào sân bảo tàng. Cô Bích Đào- phu nhân của thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc bảo tàng- tươi cười ra đón đoàn. Nhìn mới thấy Mai giống cô quá cơ. Cũng khổ người đấy, cũng cái cười e ấp ấy, cũng cái duyên dáng trời sinh mà không phải người phụ nữ nào cũng có được. Hoàng Mai là ái nữ của cô và tướng Lê Mã Lương. Đó cũng chính là lý do mà đoàn hôm nay được là khách của bảo tàng. Và đó cũng chính là một trong những mong muốn của chúng tôi trong chuyến đi này vì không chỉ thuần tuý là tham quan danh lam thắng cảnh hay quan hệ công việc mà còn muốn được làm quen với VN đất nước và con người. Thế hệ chúng tôi đi qua cuộc chiến tranh bằng cả tuổi thơ với chiếc mũ rơm trên đầu, bằng những khẩu hiệu „Tiếng hát át tiếng bom“ và bằng những thần tượng của một thời như Nguyễn Viết Xuân „Nhằm thẳng quân thù mà bắn“, Lê Mã Lương „Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù“, „Còn cái lai quần cũng đánh“ của chị Út Tịch, „Hãy nhớ lấy lời tôi“của anh Nguyễn Văn trỗi… Bởi vậy, để hiểu biết về một đất nước thì yếu tố con người làm nên lịch sử đất nước đó gần như là yếu tố quyết định. Biết cả đoàn chắc từ sáng đến giờ họp hành cũng liên miên mà giờ cũng quá trưa rồi nên cô Đào và các chị mời cả đoàn vào ngay bàn tiệc. Cả hội thấy rộn ràng ngay thế là „Còn gì nữa đâu mà bảo nhau đợi chờ“. Món bún chả thơm phức với nước chấm dầm đu đủ su hào, à còn chả lá lốt đậm đà với mùi thơm rất đặc biệt nữa chứ, sau khoảng hai chục phút như vừa có trận tzunami càn quét qua, còn tất cả thì trông hể hả lắm. Ở đây cả đoàn được làm quen với Hoàng Anh, em gái của Hoàng Mai, một nữ thiếu uý “xinh như mộng“, rất dễ thương (với cặp mắt một mí lúc nào cũng như ngơ ngác, nụ cười rụt rè và bộ tóc như suối chảy ấy ai cũng tưởng là một văn công rất trẻ một quân khu nào đó cơ chứ ít ai nghĩ đó là một cán bộ bảo tàng, có thâm niên trên dưới chục năm công tác rồi ) và gặp lại Lan là một đồng nghiệp trước đã từng ở Đức, ở Berlin và ở xí nghiệp Fortschritt. Tíu tít tay bắt mặt mừng ôn lại những kỷ niệm thời Đông Đức không những Lan vui mà bạn bè ai cũng vui cả. No say xong thì cô Đào mời cả hội vào phòng họp. Tướng Lê Mã Lương và ban giám đốc của bảo tàng tiếp đoàn rất thân mật. Chúng tôi có đặt những câu hỏi khá riêng tư tất nhiên trong phạm vi cho phép và thiếu tướng cũng trả lời chúng tôi rất vui vẻ tất nhiên cũng trong phạm vi cho phép. Kết thúc cuộc họp mặt rất vui, chia tay với tướng Lê Mã Lương và ban giám đốc của bảo tàng, cô Đào và chị Kim thiếu tá bác sỹ quân y, phu nhân của một vị tướng, đã dẫn đoàn xem phòng triển lãm „Những kỷ vật thời chiến tranh“ với rất nhiều kỷ vật rất cảm động như những bức thư tình thời chiến, những cái lược bằng duyra từ mảnh máy bay vỡ mà những người lính đã mài dũa thành gửi tặng người yêu ở hậu phương hay như cái áo len cô Đào đan tặng người yêu mình là chàng Lê Mã Lương trẻ măng ngày đó mới xếp bút nghiên lên đường chiến đấu…. Sau đó chúng tôi cả đoàn ra chụp ảnh trong khuôn viên của bảo tàng để kỷ niệm và để chiêm ngưỡng Cột Cờ Hà Nội. Đây là một công trình kiến trúc thế kỷ 19 thuộc khu vực thành cổ HN. Được xây dựng xong vào năm 1812 gồm 3 tầng đế hình chóp cụt chồng lên nhau và 1 thân cột. Có 4 cửa: cửa Đông đắp chữ „Nghênh húc“ là đón ánh nắng ban mai, cửa Tây chữ „Hồi quang“ là ánh sáng phản chiếu, cửa Nam là „Hướng minh“- hướng về ánh sáng còn cửa Bắc thì không có chữ. Vào những năm 1873 và 1882 để bảo vệ thành Hà Nội, hai vị Tổng đốc là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu đã sử dụng chính nơi này là nơi phát hoả chiến đấu và là pháo đài kiên cố chống quân Pháp cho đến khi hai vị tuẫn tiết để lại tiếng thơm muôn đời về lòng trung thành với đất nước. Bởi vậy, Cột Cờ HN từ lâu đã là một biểu tượng lịch sử của HN. Nhắc đến HN người ta không thể không nhắc đến Cột Cờ HN. Còn cuộc hẹn nữa đang chờ đợi nên còn biết bao chuyện đang tâm tình dở dang mà chúng tôi phải „dứt áo ra đi“. Bịn rịn mãi rồi mới chia tay nhau được. Ngoài là sự chia tay thông thường giữa những người gặp gỡ và quý nhau thì còn là tình cảm gửi đến các con cháu của mình đang ở phương trời xa ngái đó nữa như hôm cô chú Liên Tiến chia tay cứ bùi ngùi mãi vì chắc chắn cô chú muốn qua Thu, Đức và các bạn trong đoàn mà gửi được lòng nhớ thương của mình đến Thuỷ Vịnh Xíu Nhím; và hôm nay là cô Đào và chú Lương và Hoàng Anh chắc nhớ Mai, Vinh và Linh Đan, Linh Chi lắm đây.

Trên đường đến WWF (World Wild Fund for Nature – Quỹ bảo vệ Thiên Nhiên Thế giới, tên trước: World Wildlife Fund – Quỹ bảo vệ Động vật Hoang dã Thế giới) xe đi dọc qua con đường gốm sứ ven sông Hồng mới hoàn thành để chào mừng Đại Lễ 1000 năm Thăng Long. Nhiều ý kiến khen chê khác nhau thậm chí trái ngược nhau về việc thực hiện con đường này. Có lẽ thực chất chỉ bởi tại những cái dấu logo to ngạo nghễ chẳng có một tí thẩm mỹ nào của các công ty tài trợ trên con đường đó thôi chứ ý tưởng này đã làm cho HN có màu sắc vui vẻ lên nhiều, chí ít là trên đoạn đường này. Chứ việc biến cả đoạn đường đê từ cửa khẩu An Dương đến cửa khẩu Vạn Kiếp hơn 6 km xám xịt thành con đường nghệ thuật với rất nhiều các mảng đề tài mà thông qua những hoạ tiết, hoa văn, phối màu… để tôn vinh các di sản nghệ thuật từ thời văn hoá Đông Sơn xuyên suốt qua lịch sử các triều đại Lý Trần Lê Nguyễn đến giờ thì đó là điều nên quá đi chứ. Vấn đề cần bàn ở đây là làm và giữ như thế nào thôi. Chứ HN bụi bặm quá, nếu hàng ngày mà không có sự vệ sinh để những hoa văn hoặc hình vẽ khoe sắc được thì vô nghĩa bởi chính là người HN mà nếu không được biết trước thì cũng chẳng ai để ý lắm là đã có một con đường gốm sứ nơi đây. Xa xa là cầu Long Biên, nhân chứng lịch sử trong suốt 11 thập kỷ qua và trở thành một trong những biểu tượng quan trọng của HN. 1897 cuộc thi thiết kế cầu được tổ chức và phương án của Gustave Eiffel, kiến trúc sư nổi tiếng với tháp Eiffel ở Paris và tượng Thần Tự do ở New York  -ở Việt Nam ông còn có hai công trình nữa là Toà nhà Bưu điện Sài Gòn và cầu Trường Tiền ở Huế- được chọn chính thức để xây dựng cầu. Đây là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng HN do Pháp xây dựng (1899-1902) và lấy tên Toàn quyền Đông Dương là Doumer bấy giờ đặt tên cho cầu. Vào thời điểm này, đây là một trong bốn cây cầu dài nhất thế giới và nổi bật ở Viễn Đông. Thời chống Mỹ, cầu bị ném bom rất nhiều lần, hư hại nặng. Còn nhớ năm đó khi Thu độ 8-9 tuổi thì có lần trong lúc lò dò vừa đi vừa sợ chân lọt xuống cầu bởi cầu đã bị bom rơi hết cả những thanh gỗ dát thì trượt chân rơi mất một cái dép nhựa Tiền phong. Tiếc ơi là tiếc bởi ngày ấy, khi mà cả nước

„Một yêu anh có may ô

Hai yêu anh có cá khô ăn dần

Ba yêu anh mặc hai quần

Bốn yêu có thuốc đánh răng trong nhà…“

thì có được đôi dép nhựa TP là ngang sở hữu một tài sản ghê gớm lắm. Khi chưa có Chương Dương, chưa có Thăng Long thì cầu Long Biên với biết bao thế hệ chúng ta luôn là một cái gì đó gắn liền với Hà Nội, rất Hà nội. Xưa kia những lần từ sơ tán về, chỉ cần từ xa nhìn thấy cầu là lòng chúng tôi đã rộn ràng niềm vui bởi có nghĩa là chúng tôi đã về đến HN, Thủ đô yêu dấu. Đến trụ sở của WWF Greater Mekong tại HN, mặc dù đã đặt trước cuộc hẹn từ lâu nhưng chúng tôi cứ có cảm tưởng như sự xuất hiện của đoàn đã gây ngạc nhiên không ít cho WWF hay bởi do chưa bao giờ WWF lại có cuộc viếng thăm đông như thế này của một đoàn toàn phụ nữ cả. Do thời gian vừa rồi có sự thay đổi nhân sự nên một số nhân viên của WWF mà Thu biết qua đợt Tyty và Nemanja đoạt giải vào mùa thu 2008 đã không còn ở đó nữa. Ông trưởng ĐD bây giờ, từ 4 tháng nay, là ông Ramesh rất vui vẻ tiếp đoàn cùng cô Hương là nhân viên và cô Julian Becker là cán bộ điều phối của WWF, chương trình VN. Ở đây Đức đã phải dịch từ tiếng Anh ra tiếng Đức và ra tiếng Việt vì tiếng Anh của Thu kém quá chỉ đủ để hiểu lõm bõm thôi. Còn các bạn Đức thì cũng chỉ có một hai người là kha khá còn thì trình độ tiếng Anh chắc khá hơn Thu tí chút thôi hoặc thậm chí có người không bằng ấy chứ. Nghĩa là công việc của Đức phức tạp ra phết, nói „tiếng Lào mà phải dịch sang tiếng Ý“ mệt lắm. Ai đã từng phải làm nghề „phát âm… giúp“ này mới hiểu được nỗi khổ và mệt nhọc của nghề này. Thu giới thiệu sơ qua về ASIATICUS với các hoạt động của nó như là một trung tâm VH-XH của người Việt và những người bạn yêu VH Á Đông ở Berlin và về đề án VINAPHUNU được sự ủng hộ và tài trợ của Chính phủ Berlin từ 20 năm nay dành cho phụ nữ VN. Và lý do cuộc đến viếng thăm WWF này là để trao tặng số tiền quyên góp được và trao tặng cuốn Album về 3 cuộc triển lãm mà CLB đã tổ chức mang tên „Những giọt nước mắt của Lành và Hảo“, lấy ý tưởng từ bộ sưu tập đoạt giải nhất của Aymi Trần Vân Ngọc và Nemanja Vucicevic trong cuộc thi thiết kế „Mẫu quảng cáo trên báo in“ về đề tài „Bảo vệ Động vật Hoang dã“ do WWF Greater Mekong, Traffic Đông Nam Á và Danida- Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan mạch -đồng tổ chức. Ủng hộ việc bảo vệ môi trường ở VN mà cụ thể là ủng hộ dự án „Thay đổi hành vi, giảm tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD“ của WWF, VINAPHUNU nhận thấy rằng dự án này không chỉ triển khai ở mỗi VN mà còn phải được đề cập đến trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài bởi đó cũng chính là một trong những đối tượng chính tiêu thụ sản phẩm này. Ông Ramesh, trưởng ĐD rất cảm động trước cuộc viếng thăm này của VINAPHUNU từ Berlin vì như vậy có nghĩa là việc làm của WWF ở VN có sự ủng hộ, phản hồi từ người dân. Số tiền quyên góp được ủng hộ cho dự án „ Giáo dục BVĐVHD ở bậc tiểu học“ và giải thoát những thú đang bị hành hạ tuy không phải là một số tiền thật lớn nhưng đã khích lệ ông cũng như WWF rất nhiều trong công việc này. Hương thông báo rằng bộ sưu tập đoạt giải nhất của A. Trần và N. Vucicevic bắt đầu từ đầu năm đã được đăng trên nhiều báo tên tuổi của VN như Herritage, Thể thao và Văn hoá, Tuổi trẻ, Thanh niên, Tiền phong… Sau khi trao quà tặng cho đoàn (tài liệu và cốc uống nước in logo WWF) để làm kỷ niệm, chúng tôi chụp ảnh với cô Becker, Hương và với con gấu Panda – WWF trước trụ sở.

Về đến khách sạn, còn có hai ba tiếng đồng hồ để nghỉ ngơi nữa là chúng tôi ra ga Hàng Cỏ để „trảy“ lên mạn ngược,“hành Sapa“. Đúng 19 giờ 30, Thắng chú hướng dẫn viên du lịch xinh trai và vui tính, đáng yêu của chuyến Sapa- Hạ Long này đón đoàn ở trước khách sạn King Crown. Những valy nào không cần mang theo trong chuyến đi này ,chúng tôi đã gửi cả ở nhà kho của khách sạn để khỏi phải lỉnh kỉnh vì đằng nào lúc quay về cũng ở lại khách sạn này. Ra đến ga, không phải chờ đợi lâu, qua cổng soát vé, cả đoàn mò mẫm theo Thắng tìm vào toa của mình. Bởi trời thì tối, đèn đuốc trên sân ga không hiêủ sao không rọi đến được đường ray của toa chờ nên cảnh tượng trông như đi sơ tán ngày xưa vậy. Cả đoàn người lầm lũi, tay xách nách mang…đúng cảnh “Tiếng còi trong đêm khuya, tiếng còi trong đêm khuya…toán quân đi rồi“. Đến được toa mình phải qua một thôi dài nên bở cả hơi tai. Mà cái trò mệt là rất dễ vặc nhau. Cô Tường bao giờ cũng muốn mình nhường cho các bạn Đức một tí để tỏ lòng hiếu khách bởi họ là khách đến đất nước mình nên khách sạn bao giờ cũng phòng tốt hơn, phân chia cái gì cũng thường nhận trước…Hương thì chắc vô ý nói mà không nghĩ hậu quả lại làm cô Tường buồn lòng như vậy. Thế là ầm ầm lên. Nhưng cũng may là chỉ một tí thôi rồi Hương ra xin lỗi cô Tường sau khi Thu trò chuyện với Hương cả tiếng đồng hồ. Trong khi đó thì phòng Nga, Hưởng, Đức …vẫn rộn rã „ Gà vừa ra lông người ta mới gọi là lông gà… cầu vừa xây xong người ta mới gọi là xây cầu….đi cầu…“ bản Kachiusa lời Việt đã được Sáu trình bày hôm rồi trên xe không ngờ trở thành bản nhạc được yêu thích nhất trong chuyến đi và có lẽ sẽ được yêu cầu hát lại bất cứ lúc nào khi có dịp. Đêm trôi qua nhanh chóng vì cái sự lắc lư của tàu và không khí càng lên cao càng mát mẻ dễ chịu…

16/3

Đêm qua nhanh đến mức ai cũng tưởng mình vừa mới ngủ thì đã bị gọi dậy. 4 giờ sáng khi Thắng gõ cửa phòng gọi các cô dậy thì nháo nhào hết lên: Thu bị bỏ quên lại trên tàu cuốn sách đang đọc dở nhét dưới gối, Hiện ngái ngủ thế nào mà cố đấm nhét chân vào cái quần jean của Lê để đến khi „Tôi biết lầm“ muốn rút ra thì không được, mãi cho đến tận lúc chuột rút mới ra được khỏi ống quần, còn Đức thì cứ đi lại nhông nhông cả buổi với cái áo T-Shirt mặc trái mà lúc mắt nhắm mắt mở đã xỏ nhầm… Cả đoàn ra khỏi ga Lào Kai lúc còn quá sớm, trời còn tối và se se lạnh. Ga vắng vẻ tuy nhiên vẫn có những người buôn bán hàng rong đã dậy sớm đón khách. Có cô gái bán ảnh thiệp, bật lửa, bấm móng tay…với cái đèn pin cột trên đầu hệt như người đi bắt ếch đã chào mời chúng tôi mở hàng cho cô. Có đi đến những nơi này, gặp những con người lao động vất vả này ta mới thấy được giá trị của cuộc sống ta đang có, cả vật chất lẫn tinh thần và biết cảm thông hơn với các số phận. Xe chạy trên những con đường khúc khuỷu trong sương để khoảng 7 giờ đoàn về đến Sapa. Lào Kai cách Sapa có 38 km. Sapa là một thị trấn nhỏ được người Pháp phát hiện từ những năm đầu của TK 20 và được phát triển trở thành khu nghỉ mát và điều dưỡng bởi khí hậu trong lành mát mẻ quanh năm và cảnh quan rất thơ mộng và đẹp. Thời gian đó, người Pháp đã cho xây dựng ở Sapa cả gần 300 biệt thự và 1920 thì tuyến xe lửa Lào Kai- Hà Nội hoàn thành đã góp phần cho Sapa trở thành „Thủ đô mùa hè“ của Hà Nội. Sapa nguyên thuỷ là cao nguyên nhỏ mang tên Lồ Suối Tủng. Theo tiếng quan thoại Sapa có nghĩa là bãi cát vì trước khi có thị trấn Sapa thì đây chỉ là bãi cát và người ta họp chợ ở đó. Trong cuộc chiến tranh Việt- Trung 1979 khi răng cắn môi đến chảy máu* thì Sapa bị phá hoại rất nhiều. Mãi sau này, thập niên 90 của TK trước người ta mới bắt đầu đầu tư xây dựng lại nhiều để được diện mạo như một Sapa ngày nay.

Buffet đã chờ sẵn với đủ món Âu Á ngon lành như bánh mì bơ, xúc xích, mứt nhừ, bánh cuốn, phở gà… Rồi nhận phòng. Khách sạn Công đoàn nằm trong một khuôn viên lớn và rất đẹp gồm nhiều biệt thự có phòng ốc tiện nghi và được chia ra từng khu bằng một vài bậc thang nhỏ hẹp chen giữa những cây đào, cây mận có thể gọi là cổ thụ được vì rêu phong tầng tầng lớp lớp trên những cành hay gốc đào, mận đã cỗi lắm. Sương giăng giăng mờ mịt đến nỗi chỉ cách vài ba bước chân là ta chỉ còn thấy „mờ mờ nhân ảnh“ thôi. Sương đọng trên cành, trên lá, trên nụ, trên những cánh hoa đào, hoa mận, rồi trên mắt, trên mi… tạo nên một không khí rất thơ, rất mộng, rất chi là Sapa. Ở Sapa một ngày có đủ bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Đến gần trưa, sương tan dần, Sapa như phơi, như lộ dần dưới ánh sáng mặt trời: đẹp rực rỡ mà vẫn hiền hoà dịu dàng, mơ mơ thực thực. Trên đường đi làng Tả Văn của người Giáy chúng tôi đã dừng lại để ngắm cảnh quan tuyệt vời của Sapa với những triền ruộng bậc thang đẹp như trong tranh vẽ hay như trong những bức ảnh nổi tiếng của nghệ sỹ Võ An Ninh, những bản làng bồng bềnh trong sương mù, những ngọn núi xanh mờ thấp thoáng ẩn hiện trong sương… Giữa những con đường heo hút ấy thỉnh thoảng lại gặp một tốp phụ nữ dân tộc thiểu số vòng kiềng xủng xoảng, váy áo rực rỡ mang gùi, địu con trẻ vừa đi vừa chuyện trò, tay vừa xe đay…Người Giáy ít ai biết rằng họ còn có tên gọi nữa là Nhắng, cách đây khoảng 200 năm họ di cư từ Trung Quốc sang. Trước kia, phụ nữ Giáy mặc váy xoè như phụ nữ HMông nhưng bây giờ thì họ mặc quần chàm cạp đỏ, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải. Cổ tay và hò áo thì đắp những miếng vải màu khác nhau. Thăm một gia đình người Giáy mà anh chồng đang trông con cho vợ đi làm (ở trên này tiếp cận với khách du lịch hầu như chỉ thấy phụ nữ). Nghe chừng cũng có vẻ bất bình như mọi anh chồng khác ở địa vị này. Thế mới biết rằng tình cảm con người ta ái ố hỷ nộ về nguyên tắc là giống nhau, dù là dân tộc nào hay ở nền văn hoá nào, có khác chăng chút đỉnh chỉ là sự thể hiện mà thôi. Ra đến cầu mây, Hoàn thì đứng ở giữa cầu ra sức đu đưa, Tố Vân duyên dáng trở thành cô gái HMông che ô đứng ở đầu cầu như đang „Sao anh không nói? Sớm mai bắn tập rồi đây“ còn Ngọc thì đi tới đi lui trong bản với bộ quần áo của người Dao làm chính bà con trong bản cũng đưa mắt nhìn nhau „khâm phục“. Lần đầu tiên ở VN Thu thấy một cây hoa Amarilis được trồng ở đây, tươi tốt và thắm màu. Thu cứ ngạc nhiên mãi vì điều này (sau đó đã được giải đáp khi thăm vườn hoa ở đỉnh Hàm Rồng về). Chào bản Tả Văn, đoàn lại lên xe đi thăm Bãi Đá Cổ nằm ở thung lũng Mường Hoa. Tại đây có 196 tảng đá có nhiều hình chạm khắc hoa văn kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách đây hàng ngàn hàng vạn năm mà cho đến tận bây giờ các nhà khảo cổ học, dân tộc học, dân gian học hay ngôn ngữ học vẫn chưa tìm được câu trả lời cuối cùng cho thật thoả mãn. Trừ Susanne chân đau còn thì mọi người đều xuống đến tận nơi. Khi đi qua một ngôi mộ mới ở dọc đường thì thấy không khác lắm so với mộ của người Việt mình. Nhưng nhớ không rõ, hình như họ đắp bằng đá thì phải. Nhưng xét cho cùng cũng có gì là lạ? Vì phong tục tập quán của dân tộc nào thì cũng phải phát xuất từ và phù hợp với thuỷ thổ vùng đó chứ. Xe quay trở về khách sạn để ăn trưa. Có sự vụ hiểu lầm giữa Katharina, Conni và Hiên. Khi Hiên từ toilette ra thì cả Conni và Katharina lại vào toilette nên không gặp nhau. Thấy áo của cả hai vắt ở bàn đã có đủ người rồi thì Hiên mang áo của cả hai sang bàn của Elke, Heike… vì đã đủ người bên đó, muốn tiện cho bàn toàn Đức ngồi với nhau. Nhưng khi ra, thấy áo của mình lại sang bàn khác thì cả hai tỏ ý không hài lòng, phàn nàn mãi. Thu phải giải thích mãi là với ý tốt Hiên nó mới làm như vậy. Cho nên ở đời nhiều khi mình nghĩ điều mình làm cho người khác là tốt nhưng họ lại nghĩ khác hẳn bởi cách nhìn cũng như cách xử lý của một người phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như sự giáo dục mà họ nhận được, nền văn hoá nơi họ sinh ra lớn lên, nếp nhà, trình độ học vấn, tính cách… Tất nhiên chỉ bực một lúc thôi, khi được giải thích thì Conni và Katharina cũng gật gù, chắc rồi cũng hiểu.

Ăn trưa xong, rất mệt mỏi, ai về phòng nấy đánh một giấc thẳng cẳng đến 15 giờ thì được Thắng đánh thức dậy để đi tour chiều nay là lên đỉnh Hàm Rồng. Hàm Rồng chính là một ngọn núi trong dãy Hoàng Liên Sơn. Chỉ có ở vùng núi này mới có cây hoàng liên là một loại dược thảo quý mà thôi nên núi này mới được gọi là Hoàng Liên Sơn là vì vậy. Muốn lên được đỉnh Hàm Rồng du khách phải leo một chặng đường dài hàng ngàn bậc đá để từ đó có thể nhìn ngắm được toàn cảnh thị xã Sapa như ẩn như hiện lãng đãng trong sương mù. Vườn hoa Hàm Rồng được xây dựng lựa theo địa thế tự nhiên nên cứ cách một đoạn cảnh trí lại trải ra trước mắt du khách như những vườn lan tự nhiên với biết bao loài lan quý hiếm như Kiếm Trần Mộng, Kiếm Thu…rồi vườn châu Âu với 196 loài hoa lạ được mang về trồng thử nghiệm như, rồi rừng hoa đào…Lạ lùng nhất là cả chuyến leo lên đỉnh Hàm Rồng này của đoàn được một chú chó rất đáng yêu hướng dẫn. Cứ cách vài bước chú lại dừng lại như có ý chờ mọi người lên cùng. Ai cũng bảo rằng có lẽ kiếp trước chú là một hướng dẫn viên du lịch rất yêu nghề của vùng này. Không biết đúng sai thế nào nhưng ai cũng mến và nhớ đến chú chó này mỗi khi nhớ về Sapa.

Thu chân rất đau và nhắm thấy không thể leo được (vả lại cũng đã từng leo) nên cùng Vânchèo (cũng đã từng) đi chơi lang thang trong chợ mua đồ kỷ niệm. Chợ bán đồ lưu niệm thì ở ngay trung tâm Sapa, lọt thỏm như một cái sân vận động nhỏ vậy. Ở Sapa có 6-7 dân tộc cùng sinh sống như Dao đỏ, HMông, Giáy, Tày, Xá Phó (Pù Lá) , Việt (Kinh) nhưng việc buôn bán, dịch vụ lại chủ yếu là người Kinh nên ở chợ du khách sẽ thường thấy chủ sạp hàng là người Kinh. Còn trên đường phố Sapa thì từng tốp từng tốp phụ nữ Dao đỏ, khi thì HMông khi thì Giáy.. lúc chụm lại chuyện trò, khi thì tản ra để mời mọc du khách những sản phẩm do chính họ làm ra, thường là vài cái túi, cái ví thêu, hay mặt áo gối với những hoạ tiết đặc trưng của dân tộc mình. Những người phụ nữ này rất dễ chịu. Họ hỏi và mời bạn mua hàng của họ, nếu không thích bạn cũng không bị họ gây phiền nhiễu gì. Ở chợ này Thu đã gặp lại bé Sú xinh xắn dễ thương năm nào nay đã là một thiếu phụ HMông trẻ có hai con rồi. Sú kể ở bản của Sú bằng tuổi Sú mà có 2,3 con là bình thường vì lấy chồng rất sớm, chồng Sú ở nhà làm nương. Địu con trên vai, thằng cu chắc chỉ độ 7-8 tháng tuổi, Sú đi bán những túi và khăn thổ cẩm cùng với các bạn gái của mình là Phính và Dẻ. Trời lạnh thế mà những đứa bé địu trên lưng mẹ như con Sú, con Dẻ chẳng có tất hay quần áo ấm gì mà chỉ được quàng tấm chăn dạ hoa Trung quốc bé vừa đủ, chân cẳng thòi ra cả. Năm xưa Thu có chụp ảnh Sú và trong vài ba năm sau, năm nào Thu về VN cũng mang theo để nhỡ đâu có đi Sapa thì tìm Sú tặng ảnh . Vậy mà rồi đến tận bây giờ 9 năm sau Thu mới gặp lại dù rằng đi trên đường phố Sapa cả ngày nay Thu cứ có ý đi tìm. Mà Sú cũng đâu có biết rằng năm ấy vào đến SG Thu đã gặp lại Sú qua một bức ảnh của một phóng viên người Đức chụp Sú và các bạn mình, khi đó Sú và các bạn chỉ độ 7-8 tuổi gì đó mà thôi. Trò chuyện chụp ảnh với Sú, Dẻ và Phính mãi thì Thu và Vânchèo mời ngày mai ra dự sinh nhật và mua đãi cả ba ăn bánh kem. Đối diện nhà thờ là một quán cà phê xinh xắn. Sau khi lai rai nhâm nhi thấy vừa ý quá Thu quyết định đặt sinh nhật cho Elke ngày mai ở đây. Đặt bánh ngọt, một cái tiramitzu thật to cho khoảng 30 suất vào đúng 10 giờ sáng. Ra khỏi quán thì vừa gặp mọi người về. Dạo một vòng xem Sapa chiều muộn rồi đi ăn cơm tối là vừa. Trong bữa ăn, Thu phải dặn mọi người về việc giữ kín đến ngày mai kế hoạch tổ chức sinh nhật Elke, không ai được lộ ra, mất vui. Sau bữa ăn tối rất ngon cả hội về phòng Nga đấu hót. Cô Tường rủ Thu về phòng mình nhưng nghĩ đến chuyện lại phải xách valy lên lên xuống xuống nên thôi. Chính vì vậy nên thừa phòng nhưng Thu cứ chèo kéo Lêchen ở lại phòng Thu cho vui, đỡ phải đi đâu mệt xác. 9 rưỡi Thu về phòng làm việc. Tiếc là ít thời gian quá và lại không đúng vào thứ bảy, chủ nhật để ta một lần được biết phiên chợ tình của người HMông, người Dao, được nghe tiếng khèn gọi bạn khắc khoải trong đêm, tiếng vó ngựa khua rộn rã hoà với tiếng nhạc ngựa lanh canh của người HMông xuống núi khi phiên chợ, được một lần nếm món „thắng cố“ bốc hơi nghi ngút từ cái chảo to đùng trong cái lạnh tái tê, được biết đến những „Tiếng đàn môi sau bờ rào đá“ thấp thỏm đợi chờ… mà trong những truyện ngắn tuyệt vời của Đỗ Bích Thuý đã ru hồn độc giả về vùng biên ải phương Bắc này. Đêm ở Sapa sao buồn thế. Chẳng mộng mị, chẳng mơ màng mà hồn bơ vơ, như phiêu diêu nơi đâu?

*“Môi hở răng lạnh“ chỉ tình anh em giữa hai nước Việt Trung.

17/3

8giờ mọi người mới lục tục xuống ăn sáng vì hôm qua ngủ ngon quá. Buffet vẫn nhiều món cả Âu Á như ngày hôm qua. Vì đã dặn trước nên mọi người lờ đi coi như không biết Elke có sinh nhật. Tuy nhiên Bettina và Heike vẫn chúc Elke. Thu sợ quá tưởng cả hai đã bật mí rồi nhưng Bettina nháy Thu rằng yên tâm, Elke không biết gì về kế hoạch của cả hội cả. Vấn đề bây giờ là ở chỗ làm thế nào để ngăn chặn được chương trình đi mát xa của Elke và nếu có đi thì làm cách nào để tóm được Elke về đó đúng 10 giờ mà vẫn hoàn toàn giữ được bí mật đến phút chót? Thế là Susanne nhận nhiệm vụ này. Quán cà phê ở ngay trung tâm, tuy vậy mà vẫn nhiều người không biết nên gần 10 giờ là cử vài người ra lảng vảng ở đầu đường và ở gần quán để làm ám hiệu. Tóm lại cứ như trinh thám An Nam thực sự ấy. Bằng mọi giá là phải làm cho Elke mãi đến tận khi bước vào trong quán rồi mới được biết niềm ngạc nhiên thích thú này.

Trong khi mọi người đi dạo phố và mua sắm đồ lưu niệm thì Thu dù vui rất nhiều chuyện nhưng không hề quên nhiệm vụ. Một ý tưởng chợt đến cho những cuộc triển lãm tiếp theo ở CLB vào dịp Tết , thế là lập tức tay xách nách mang, bịch lớn bịch bé đầy sản phẩm đặc trưng của Sapa đã được khuân về phòng. Sau đó Thu đi tìm mua hoa cho Elke chứ sinh nhật mà không có hoa thì bánh to mấy cũng chả ăn thua gì. Hoa ở Sapa không nhiều và cũng không phong phú như ở HN được. Ở trung tâm Sapa trước cổng chợ chỉ có một hàng hoa bé tí, vài ba loại hoa đơn sơ. Hay là vì quen nhìn hoa ở Berlinvà các nước châu Âu rồi, quen với việc hàng hoa là chất ngất đủ chủng loại, màu sắc rực rỡ, trăm hồng ngàn tía… nên thấy như vậy chăng. Hay vì phong cảnh thiên nhiên của Sapa đã đủ đẹp, đủ lãng mạn và thơ mộng.. nên sự có mặt của hoa cũng không đóng vai trò thiết yếu nên nhu cầu về hoa ở đây không được chú trọng? Trước 10 giờ một tí mọi người đã tề tựu đông đủ trong quán cà phê. Bàn hoa và bánh được dọn ở giữa nhà. Thu còn đặt riêng thêm 3 chậu than làm hoả lò cho cả quán ấm áp hơn, tạo nên một sự thi vị đặc biệt cho buổi sinh nhật hôm nay của Elke. Khi Susanne dắt tay Elke với đôi mắt mở tròn bước vào thì mọi người cao giọng đồng thanh bài chúc mừng sinh nhật quen thuộc Happy Birthday to You, hoà cùng tiếng violine réo rắt của Katharina. Sú, Dẻ và Phính là khách mời hôm nay của buổi lễ. Phính nói tiếng Anh tốt và phát âm rất chuẩn. Chính Phính cũng bảo rằng „Mình nói tiếng Anh tốt hơn tiếng Kinh đó“. Chuyện trò hỏi thăm cuộc sống của bản H’Mông thế nào, gia đình Sú thế nào. Dẻ thì ít nói hơn. Mọi người cùng ăn bánh ngọt, uống cà phê, trò chuyện vui vẻ trong tiếng đàn dìu dặt êm ái của Katharina. Đây là sinh nhật thứ 3 của chuyến đi này. Đầu tiên là sinh nhật cô Tường trên phi trường Tân Sơn Nhất, ngay thời điểm đầu tiên vừa hạ cánh máy bay. Tất cả quây quần quanh cô, trong tiếng đàn của Katharina hát vang bài hát chúc mừng sinh nhật. Nét mặt rạng ngời hạnh phúc của cô, trên tay ôm bó tuylip 64 bông còn tươi rói mang từ Đức về dành riêng tặng cô…làm bao nhiêu ánh mắt ngưỡng mộ đều hướng về cô hôm đó. Sinh nhật thứ hai là của Tố Vân ở Nha Trang trời xanh, biển xanh, dừa xanh… đúng vào ngày QT Phụ nữ. Cả đoàn tặng Tố Vân một bức tranh khắc gỗ to làm kỷ niệm, sau đó Tố Vân khao mọi người một bữa bún bò giò heo và trứng vịt lộn mệt nghỉ. Và bây giờ là sinh nhật Elke 49 tuổi ở Sapa, trong một quán cà phê nhỏ ở trung tâm có 3 cô gái HMông là khách mời của cả đoàn, trong cái ấm áp đầy cảm động của tình bạn, tiếng than tí tách trong hoả lò, tiếng violine vời vợi…ngoài kia Sapa như trôi trong sương. Quả là những sinh nhật đáng nhớ trong đời phải không các bạn? Sau khi nhận kỷ niệm của cả đoàn là một tấm thổ cẩm Sapa treo tường, Elke cám ơn mọi người , Thu thanh toán tiền (Uwe nhờ Thu hôm ở Tegel) và tất cả cùng về để còn dọn dẹp đồ đạc, check out cho đúng giờ vì cả đoàn ngay sau đó là còn đi ăn trưa ở nhà hàng dưới phố nữa.

Bữa ăn trưa rất ngon và lạ miệng, tối qua cũng vậy. Nghĩa là lên đây ta được thưởng thứ hết cả đặc sản của Sapa như ngọn susu luộc chấm muối vừng, cá suối nướng,„gà chạy bộ“, „lợn cắp nách“. Gà chạy bộ là những con gà mà người dân bản thả rông cho nó tự kiếm ăn nên thịt rất ngon, còn giống lợn mà nuôi đến khi trưởng thành cũng giỏi lắm là chỉ nặng khoảng mươi ký thôi nên khi mang ra chợ bán người ta chỉ việc buộc chân hay cho vào rọ rồi cắp nách là được, không phải khiêng vác gì thì gọi là lợn cắp nách. Loại lợn này cũng thả rông nên thịt rất chắc và thơm và chỉ có ở vùng núi phía Bắc này. Quay trở lại khách sạn, xe đã chờ ở đấy. Vẫn biết rằng „Hội ngộ rồi chia ly“ là lẽ tất yếu nhưng cuộc chia tay nào mà chẳng vấn vương, chẳng bịn rịn bởi lẽ biết bao giờ mới gặp lại (và nếu gặp lại thì không hiểu Sú đã thêm mấy đứa nữa rồi)? Sú, Dẻ và Phính đều tặng Thu rất nhiều những sợi dây buộc cổ tay nói rằng “Cho cả mấy đứa kia nữa nhé“và chỉ lên xe mà mọi người đã ngồi đông đủ trên đó. Đức và Thu nhận lời mời và hứa rằng lần sau lên gặp lại sẽ vào bản thăm gia đình của Sú và các bạn. Có phải „tiền duyên“ chăng mà lần nào lên Sapa khi chia tay Thu đều thấy nặng lòng. Vì đất lành, vì cảnh đẹp hay vì những con người hiền lành thuần phác ở đây? Có lẽ vì tất cả. Khuôn mặt xinh đẹp, đáng yêu vô cùng của Sú ngày bé rồi những bàn chân trần con trẻ tím lạnh thò ra khỏi tấm chăn địu trên lưng của những người mẹ trẻ, những cô gái HMông còn ngây thơ khi chưa bị nền văn minh vật chất cám dỗ… sao cứ làm lòng ta luôn như thắc thỏm một điều gì.

Xe chuyển bánh đến thăm bản người Dao Đỏ trước khi về Lào Kai. Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc di cư của họ bắt đầu từ TK 17 kéo dài cho đến tận đầu TK 20, tiếng nói của họ thuộc ngữ hệ H’Mông-Dao. Và gồm có nhiều nhóm địa phương khác nhau như Dao Tiền, Dao Quần chẹt, Dao Đỏ, Dao Quần trắng…Tuỳ theo từng nhóm, từng vùng mà có các hình thức canh tác khác nhau như người Dao Quần trắng hay Dao Áo dài thì chuyên làm ruộng nước, người Dao Đỏ thì thổ canh hốc đá. Nghề trồng bông dệt vải rất phổ biến ở người Dao. Họ ưa mặc vải chàm. Phụ nữ Dao ăn mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài, yếm, váy hoặc quần. Y phục thêu rất sặc sỡ. Họ không thêu theo mẫu vẽ mà theo trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải, rất kỳ công. Có khi cả năm hoặc nửa năm mới xong một vạt lưng chẳng hạn. Đường đi bộ vào bản cũng khá xa, trên đường đi vừa hý hoáy tước những sợi đay, vừa thủ thỉ chuyện trò, những người phụ nữ Dao Đỏ dẫn đường cho chúng tôi đã kể cho nghe như vậy. Gọi là Dao Đỏ bởi y phục của họ màu đỏ là chủ đạo, rất rực rỡ. Và vì hầu như không thấy đàn ông trong suốt đường đi cũng như trong bản nên khi hỏỉ thì chúng tôi được trả lời là „Chúng nó đi làm nương hết rồi“. Đây đó, một vài cụ bà ngồi sưởi nắng, trẻ con thô lố mắt nhìn người lạ, còn những phụ nữ trẻ hơn thì túm năm tụm ba vừa trò chuyện vừa thêu thùa trên những tấm vải chàm để sau đó sẽ là quần hay vạt áo, túi đeo…gì đó, vừa kể lể chuyện nhà cửa con cái cho nhau nghe, những mối bận tâm thường nhật mà bất kỳ những ai là phụ nữ đều thông hiểu. Ai cũng mua thêm những đồ lưu niệm nho nhỏ như túi xách,ví…đẹp với rất nhiều mẫu mã tinh xảo, vừa là để giúp những người phụ nữ này có thêm đôi chút thu nhập vừa là để tỏ lòng hâm mộ những đôi bàn tay khéo léo tài hoa của những người phụ nữ Dao Đỏ này. Buổi chiều ở một bản người Dao rất yên bình và tĩnh lặng. Cảm giác hồn ta cứ như lơ lửng trên cao, giữa đất trời vời vợi, thư thái… hay bởi cái gió cái nắng ở đây nó cũng hiền lành, thơm tho và khoáng đạt…Quay về chỗ xe chờ thì cũng đã chiều chiều. Tạm biệt những phụ nữ Dao đáng mến, xe khởi hành hướng Lào Kai. Đến Lào Kai, xe dừng ở đền Thượng có một cây đa to đẹp ơi là đẹp, rễ cây thả xuống như trăm ngàn cánh tay quấn quýt, gốc cây phải mấy người ôm mới hết. Đền thờ Đức Thánh Trần- Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn- nằm ở nơi hợp lưu của hai con sông Nậm Thi và sông Hồng. Ở Việt Nam chỉ có hai vị, một là Mẫu Liễu Hạnh -một trong „tứ bất tử“- hai là Đức Thánh Trần -người anh hùng dân tộc đã 3 lần đánh đuổi quân Nguyên, giành độc lập dân tộc là được thờ phượng ở rất nhiều nơi, từ đồng bằng cho đến miền núi, thành phố cho đến tận thôn quê. Rất tiếc là vì thời gian còn qúa ít chứ chỉ khoảng nửa tiếng nữa là có buổi hầu đồng. Lóng lánh rực rỡ hàng mã ngựa, voi, cờ, lọng, quạt, áo, mão, cân, đai, cung tần, mỹ nữ…xếp đầy sân. Cung văn đã thấy đàn sáo chỉnh tề chờ đợi. Nhưng rồi chúng tôi vẫn phải lên xe ngay để còn kịp ra biên giới Việt Trung tham quan. Đúng chỉ thấy cách một con sông nhỏ là sang đến đất Hà Khẩu Vân NamTrung Quốc mà rồi cũng làm sao mà sang được nếu không có Visum. Ngay cạnh cửa khẩu có một ngôi đền nhỏ thâm u, tịch mịch thờ Mẫu Thượng Ngàn hay còn gọi là Bà Chúa Thượng Ngàn. Trong điện thờ hay trong tranh thờ , hình tượng được tạc hay được vẽ về bà luôn là một người phụ nữ đẹp đoan trang, phúc hậu, ngồi tư thế thiền trong trang phục màu xanh lá cây. Cùng với Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Liễu Hạnh), Mẫu Thoải (Mẫu Thuỷ), Mẫu Thượng Ngàn đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Bà được nhiều người thờ phụng, coi là hồn thiêng sông núi. Bà có mặt ở khắp nơi, khi ở miền núi lúc xuống đồng bằng phù hộ cho con dân. Tuy nhiên đại bản doanh của bà vẫn là vùng núi non và cửa rừng. Những người đi rừng kêu cầu Bà phù hộ độ trì cho được bằng an, vạn sự tai qua nạn khỏi; những ai săn bắn chim muông, thú rừng, khai thác lâm sản..phải đặt lễ, thắp hương cầu xin bà chấp thuận…Đứng từ sân đền cả hội chụp ảnh được toàn cảnh cửa khẩu biên giới đẹp ra phết.

Sau đó đoàn vào nhà hàng gần ga Lào Kai ăn cơm tối rồi đi dạo suốt dọc phố phường trước ga. Hôm nọ khi đến Lào Kai ra khỏi ga là trời chưa sáng nên trừ những người buôn bán rong còn thì phố xá vẫn im lìm trong giấc ngủ say. Hôm nay lại là lúc đang vãn chợ chiều nhưng vì ở trước ga nên chợ vẫn còn rất nhộn nhịp. Cảnh người mua kẻ bán tạo được nhiều cảm hứng cho Conni, Thu và Vânchèo „sáng tác“ được rất nhiều ảnh. Và đấy cũng là một trong những đề tài hấp dẫn để làm một cuộc triển lãm về chuyến đi này. 19 giờ lên tàu về HN. Tàu du lịch VN bây giờ rất khá, ít nhất là chuyến tàu mà đoàn đi chuyến HN-LK và LK-HN này (lại nhớ đến hai câu thơ rất phổ biến của Bút Tre năm nào

„Tàu ta nay đã đàng hoàng

Yên Viên Phú Thọ lại càng Lào Kai

…..kỹ  thuật chưa cao“

mà nhớ đến ước vọng đơn sơ ngày ấy). Tàu nằm, mỗi khoang có 4 người, hai người nằm trên, hai người nằm giường dưới; tàu sạch sẽ có nước nôi cốc chén đàng hoàng. Toa nào cũng có nhân viên của tàu và nhân viên „chăm sóc khách hàng“. Mệt mỏi sau mấy ngày „trèo đèo lội suối“, hôm nay ai nấy đều ngon giấc cả từ sớm. Đâu khoảng 10-11 giờ khuya là yên ắng hết chứ không thấy nhiệt huyết hát hò như hôm đi.

18/3

Nhưng trước mỗi cơn giông hay bão tố thì trời đất thường bình lặng một cách lạ kỳ như vậy. Lúc gần 3 giờ sáng Thu dậy đi toilette. Vào nằm một lúc chưa ngủ được thì thấy Hiện cựa quậy Thu hỏi Hiện về cái túi đồ kosmetik của Thu ban nãy có biết cất vào đâu không. Chỉ cho Thu tìm cái túi thì bỗng Hiện phát hiện ra là không thấy cái túi của mình cất ở đầu giường đâu. Hoảng hốt nhưng cả phòng rất bình tĩnh, Hiện và Thu giường dưới, Lêchen và Hiên nằm ở giường trên bật đèn lên cùng tìm thì khẳng định đã bị mất. Túi Hiên ngay cạnh túi Hiện, túi Thu một để ở đầu giường và một để ở cuối giường vẫn còn nguyên. Khi đó nghe loáng thoáng có vấn đề, Đông và Đức ở phòng bên nhảy sang ngay. Đức chạy ra phòng nhân viên ở đầu toa cạnh toilette báo với cô nhân viên „chăm sóc khách hàng“ sự việc. Cả thái độ cô LTC này lẫn anh nhân viên nhà tàu phụ trách toa đều rất đáng để gây ngờ vực: lúng túng, sợ hãi một cách không cần thiết nhưng lại tỏ ra thản nhiên quá mức cần thiết trước sự việc như thể là nó phải xảy ra chứ nếu nó không xảy ra mới là đáng ngạc nhiên vậy. Lúc đó thấy Đông bảo chị chạy theo em đi, em thấy cô LTC thậm thụt gì rất lâu với một cô đồng nghiệp toa dưới. Hai chị em chạy theo, Thu mở cửa toilette cuối của toa mình, không thấy gì, của toa tiếp theo thì thấy một túi xách màu đen đã bị lục tung, đồ đạc bị vứt tung toé ra ngoài trên bồn rửa mặt, nhìn thấy ngay hộ chiếu. Thu, nhân viên bảo vệ của tàu, lúc đó có cả Ngọc và Huyền Vân cùng đứng canh để không ai vào lộn xộn cho mất dấu. Thu nói Đông chạy về phòng gọi Hiện lên xem có đúng là túi Hiện bị mất không. Hiện lên, khẳng định là của mình.Trong khi đó thì Hiên và Đức ở toa tiến hành xét những nơi có khả năng dấu đồ ăn cắp bởi không ai khẳng định được nhưng ai cũng thừa biết chẳng thể là ai ngoài nhân viên trên tàu được cả. Tất nhiên là không thấy gì vì người có chủ ý giấu thì làm sao mình có thể biết được? Đây là tàu du lịch, toa chỉ toàn người của mình, người lạ ở toa khác đến lớ xớ đấy cũng còn khó, sẽ bị hỏi ngay nữa là ai ở đâu đến được? Vả lại thời gian đi toilette của Thu cực nhanh, chỉ trên dưới 1 phút mà khi ra là cả hành lang vắng tanh, không có một ai. Vậy thì không thể là người lạ được mà chỉ có thể là người chực sẵn và biết thời khắc đó mà thôi. Vả lại Susanne và Huyền Vân đều nói khoang mình vào khoảng thời điểm đó có thấy một người đàn ông áo khoác ngoài màu sẫm, trong màu nhạt, khá cao vì đứng cao hơn cả giường tầng thứ hai tìm cách mở cửa phòng nhưng không được vì đã chốt ở trên. Rất lạ lùng là cả trưởng tàu rồi nhân viên bảo vệ đều không ai tỏ ra là có quan tâm thực sự cả chỉ nhắc đi nhắc lại mãi là biên bản phải có ghi chi tiết là đèn đuốc đủ cả. Cũng có làm biên bản nhưng sao cứ lờ phờ ậm oẹ. Công an thì không có trên tàu. Lúc phát hiện ra là 3 giờ 15 phút mà đến 4 giờ 30 thì về đến HN. Chờ đến nửa tiếng mới thấy công an của trạm CA ga ra mặc dù đã báo tàu là phải gọi CA ngay. Thái độ rất dửng dưng, một CA lên nói là mang hết tang vật kia xuống trạm để giải quyết. Tất nhiên Thu không đồng ý. Hơn cả tiếng đồng hồ canh chừng sợ lộn xộn mất dấu vì hy vọng duy nhất là ở dấu tay có thể để lại trên tang vật mà bây giờ lại không có một sự lưu tâm nào đến chuyện đó, định giải quyết vô trách nhiệm như vậy? Thấy mọi người đều kiên quyết như vậy nên cuối cùng trạm phải cho cán bộ mang túi nilon lên, đeo bao nilon để bỏ đồ vào để còn cho đi giám định. Cái việc „được“đi giám định cũng như cung cách xử lý cả một ngày hôm đó làm tất cả thất vọng ghê gớm. Huy động đến những mối quan hệ như chú của Đức và hai chú em họ của Đông cũng là những cán bộ trong ngành rồi thì mới thấy nhúc nhắc đôi chút nhưng cái việc „Châu về Hợp Phố“ vẫn là gần như vô vọng. Khi vào đến trạm thì thái độ những đối tượng bị nghi ngờ là hoàn toàn thay đổi, không hề sợ hãi gì nữa và nhâng nháo cười đùa như không hề có việc gì xảy ra. Từ khi xảy ra việc, đánh SMS liên tục nhưng khi hỏi đến thì cô nhân viên “chăm sóc khách hàng“ LTC kia đã xoá toàn bộ những tin nhắn trong di động của mình mà không giải thích được là vì sao làm vậy?

Trong khi đó thì Thắng, hướng dẫn viên du lịch phụ trách đoàn trong tour HN-Sapa- Hạ Long Cát Bà này phải đưa đoàn đi ăn sáng và đi chơi cho mọi người không thấy sốt ruột. Nhưng khổ nỗi cái xe bus to thế đâu có phải tìm chỗ đỗ dễ dàng đâu thế là cũng phải lang thang suốt. Một trong những „đặc quyền“ mà trạm CA chiếu cố đến là cho xe bus về đỗ tại ga, trước cửa trạm. Thế là ngồi la liệt trước cửa ga, mệt mỏi chán ngán và vô vọng. Tốp từ sáng đến giờ chưa ăn gì thì tranh thủ đi ăn sáng (chỉ có Vânchèo về nhà vì ốm và Loan xin về Bắc Giang luôn để chăm sóc mẹ ốm, cố gắng lắm là đi với đoàn được đến hôm nay thôi). Đến trưa thì Thu quyết định phải có sự can thiệp của công luận và gọi cho Báo Phụ nữ VN và cùng Hội Liên hiệp PNVN là hai nơi vừa hai hôm trước đây đoàn đến thăm và được tiếp đón nồng nhiệt. Báo chí có đăng tải về việc này như là một sự kiện và đoàn đã tạo được ấn tượng tốt về những hoạt động của VINAPHUNU trong những năm qua. Một lát sau thì các chị Hoài Giang, Trưởng Ban QT và Đối ngoại, chị Trần Thị Lan, Trưởng Ban Tổ chức, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch và Thanh Dung, cán bộ của Hội LH PN VN đã có tại trạm CA ga là nơi mà cả đoàn phải vạ vật suốt từ 5 giờ sáng. Sự có mặt của các chị đã nâng đỡ tất cả rất nhiều nhất là về tinh thần, đó là còn chưa kể đến việc Hội phải mang ra „cấp cứu„ cho đoàn cả chục triệu vì sợ mất sạch. Cám ơn các chị rất nhiều về tấm lòng và sự chu đáo của Hội nhưng dĩ nhiên trong đoàn vẫn còn tiền đủ để tiêu pha (thật là may chứ nếu kẻ trộm mà biết cô Tường mới là người tay hòm chìa khoá chính của chuyến này thì thiệt hại có lẽ mới là khủng khiếp). Cả gần một ngày trời chờ đợi như vậy nhưng không một ai tỏ ra khó chịu vì chương trình chuyến đi của mình bị trì hoãn cả, bởi VINAPHUNU biết rằng đây chính là lúc chúng ta phải đoàn kết để cùng nhau vượt qua những khó khăn, không ai nghĩ đến việc quyền lợi của mình bị ảnh hưởng cả mà chỉ muốn chia sẻ sự thiệt hại mất mát bằng cách kề vai sát cánh với nhau trong những giờ phút này. Và thật quý vô cùng khi ở vào những thời điểm “Nước sôi lửa bỏng“ lại có những người bạn cùng ta chia sẻ khó khăn, nhiều khi chỉ là sự hiện diện của họ cũng đã nâng đỡ tinh thần ta vô cùng. Thu Hương, Ngọc Mai và Thắng (tất cả đều là bạn Thu ở HN) cũng ra ngồi mãi ngoài ga cho đến khi đoàn khởi hành đi Hạ Long. Theo chương trình thì ngay từ sáng sớm, xe đã đón tiếp đoàn ở ga đi tiếp ra Hạ Long mà trên đường thì còn ghé tham quan Trúc Lâm Thiền viện -Yên Tử nữa. Có nghĩa là đáng lẽ bây giờ cả hội đang vi vu trên thuyền buồm du ngoạn trên vịnh Hạ Long cơ. Đến 16 giờ, khi được biết không thể có hy vọng gì có kết quả khả quan được thì đoàn quyết định phải đi vì sự ở lại không có ý nghĩa gì. Hội LHPNVN sẽ thay mặt đoàn làm việc tiếp với trạm CA. Đến tối khi cả đoàn đã ở Hạ Long rồi thì Thu nhận được điện của chị Trần Thị Lan lúc ấy đang ở trạm CA ga báo là kết quả của giám định hình sự không nhận rõ được vết vân tay. Và hôm sau khi được Thanh Dung cho biết là chị Thanh Hoà đã đánh công văn cho Bộ CA yêu cầu „đánh chuyên án“ vụ này thì cả đoàn mới thấy còn có hy vọng sẽ không bị „chìm xuồng“. Nghĩa là các chị theo sát vụ việc này và rất tận tình giúp đỡ đoàn. Ai cũng khuyên rằng nên đi Hạ Long ngay cho kịp chương trình vì vụ việc không thể giải quyết ngay được, ở lại không ý nghĩa gì. Các chị bên Hội đã thay đoàn làm việc tiếp với trạm và nếu cần sẽ làm việc với Bộ. Tâm trạng Hiện lúc này rất khó nói nên Thu để cho Hiện tự quyết định. Hiện muốn ở lại và đoàn cứ đi để dù sao cũng còn có thể biết được kết quả ít nhiều. Đông quyết định ở lại với Hiện tại HN để chờ đoàn từ Hạ Long về vì hy vọng rằng lúc đó là có kết quả nhưng Thu và mọi người có phân tích cho Hiện để khỏi có ảo tưởng. Hiện gọi điện thoại cho anh Lai thì anh cũng nói vậy và Hiện quyết định đi cùng đoàn. Dù lòng cay đắng lắm và vẫn còn bị sốc nhưng Hiện quả thật là một người „Đàn bà dễ có mấy tay“, bình tĩnh, sáng suốt, tỉnh táo và cực kỳ quyết đoán. Chỉ ít tiếng đồng hồ sau là Hiện lại cầm micro hát hò với mọi người được và cùng với Nga, Hưởng Lechen quậy quá chừng đêm đó.

Trên đường đi cô Tường phải gọi điện đi lại mãi để thông báo tình hình còn Thắng thì cũng phải „báo cáo báo chồn“ về công ty liên tục để xin ý kiến. Cả đoàn đến Hạ Long là đã tối mịt rồi. Một chiếc thuyền con đưa cả đoàn ra thuyền lớn neo ngoài xa vì chắc thuyền lớn nên không vào sát bờ được. Bữa ăn tối quả là đại tiệc, cả hội ngốn ngấu phần vì đói phần vì mệt và lại còn sự kiện kinh hoàng kia nữa nên khi thấy ghẹ, tôm hùm là ngất ngây hết thảy. Hưởng đãi ngay bàn mình một chai vang mà nghe đâu cũng khẳm tiền ra phết. Sau khi phè phỡn xong thì đến tiết mục Karaoke. Thắng ra mồi cho các cô các chị hát rồi chuồn đi đâu không biết (à, sau đó Thu cũng phát hiện là không thấy Đức đâu? Không hiểu thế nào? Có sự liên quan nào giữa hai sự mất tích này không đây?). Không có Vânchèo ở đây để vui cùng, nhớ quá đi mất. Heike, Bettina, Susanne và Elke ngồi uống rượu ngoài terrasse để thưởng thức vẻ đẹp của vịnh ban đêm, ngắm những bóng hình lô nhô thiên hình vạn trạng của đảo Hạ Long như đang trôi trên sóng nước… thì ở phòng chính của tàu khi đó Katharina đàn cho Tố Vân, Conni, Lêchen, Hiện hát, Hoàn và Lêchen ôm nhau vanxờ, Nga hò hét cho tuyên ngôn“ 60 năm cuộc đời, 20 năm đầu sung sướng không bao nhiêu…“, cuối cùng là màn hợp ca của Hưởng, Nga, Hoàn, Tố Vân… bài „Gà vừa ra lông…“ đã kết thúc một ngày xảy ra biết bao sự kiện. Conni phát hiện ra là mình có năng khiếu hát và thích Karaoke. Đêm ấy cả đoàn còn được thưởng thức hai giọng ca tuyệt vời của anh thuyền trưởng và cô phục vụ, hay hơn nhiều diễn viên chuyên nghiệp mà bây giờ do công nghệ lăng xê trở thành những ngôi sao tẻ nhạt nhan nhản trên bầu trời ca nhạc VN. Thanh Phương là một người phụ nữ rất dễ gần, dễ mến. Cô tâm sự về cuộc sống riêng của mình rất tự nhiên, cởi mở. Hiện tại cô rất vui về công việc của mình trên tàu và cô đã chấm dứt cuộc sống khổ ải với người chồng gia trưởng, vũ phu (chỉ bởi cô sinh hai con gái, nghĩa là không có con cho nhà chồng có người nối dõi) để chuẩn bị sang Úc đoàn tụ với chồng là một người du khách quen biết cô trên một chuyến tàu như chuyến tàu này. Chúc mừng cho em thật hạnh phúc nhé cho dù có lẽ chẳng bao giờ em đọc được những dòng này đâu Thanh Phương ạ.

Đêm ở vịnh tĩnh lặng vô cùng, chỉ thỉnh thoảng nghe được tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn tàu hay tiếng động mơ hồ nào đó của một loài cá ăn đêm… Không khí như dịu dàng như xa xôi đưa chúng tôi thiếp đi trong cái ánh sáng huyền hoặc trên vịnh, chẳng hiểu của trăng hay của sao hay của những làn nước đen lóng lánh, lấp loáng…

19/3

Bình minh trên vịnh thật tuyệt vời. Một cảm xúc tươi mới, sáng sủa, trong trẻo và mát lành của một ngày mới làm ta chóng quên đi những gì u uẩn mà bóng tối ban đêm thường hay mang đến. Bầu trời xanh, nước xanh với hàng ngàn những hòn đảo đá muôn vạn hình thù khác nhau, không đảo nào giống đảo nào, lô nhô trên biển. Cảnh đẹp vô cùng kỳ thú, vô cùng ngoạn mục và nếu ai chưa từng một lần được đến Hạ Long, chưa từng một lần được ở giữa trời nước mênh mang này, được chiêm ngưởng vẻ đẹp mà tạo hoá đã ưu ái ban cho con người này thì quả thật là đáng tiếc. Hạ Long xứng đáng là một trong những kỳ quan của thế giới. Ăn sáng xong, thì cả đoàn lên thuyền nhỏ vào đảo Canh Độc để tham quan động Thiên Cung bởi động này nằm ở lưng chừng đảo. Khi bước vào lòng động, trước mắt ta đột ngột mở ra không gian rộng lớn với nhiều măng đá như một đền đài tráng lệ. Vách động cao, thẳng đứng và vòm đều được bao bọc bởi những nhũ đá với muôn ngàn hình thù kỳ lạ do bàn tay của thiên nhiên khảm và chạm khắc lên như chim muông, cây cỏ, hoa lá, tiên nữ múa hát, Nam Tào Bắc Đẩu đánh cờ, Lã Vọng ngồi câu cá… Ngất ngây trước cảnh đẹp mỹ lệ của động Thiên Cung, Katharina đã để cảm xúc trào dâng cùng cây đàn violine của mình gửi tặng không những các bạn trong đoàn, tặng chính mình mà còn tặng khách thập phương những tiếng đàn réo rắt, chơi vơi…Chắc bức tranh một thiếu phụ trời Âu, một nghệ sỹ violine, trước động Thiên Cung non nước hữu tình đứng biểu diễn say sưa như gửi hồn mình vào trong tiếng đàn sẽ là một cảnh đáng ghi nhớ trong tâm khảm của nhiều du khách. Tàu nhỏ lại đưa đoàn trở lại tàu „Bài Thơ“, trên tàu một lần nữa Katharina lại cùng với cây đàn của mình ngợi ca trời nước Hạ Long. Sau khi check out, mọi người lưu luyến tạm biệt thuỷ thủ đoàn ở một bến cảng và lên xe bus về khách sạn 4 sao ở Cát Bà. Đó là một khách sạn đẹp tuyệt vời nằm ngay cạnh bãi Cát Cò 1, nhìn thẳng ra biển, có bể bơi nước ngọt, hoa lá đua chen khoe sắc, phòng ốc tiện nghi, trang trí rất nhã nhặn… Tóm lại là ngoài cả mong muốn. Nhớ Thu, Dung, Vuông, Tyty, Nemanja… đã từng qua lại nhiều nơi đây và đã từng ngắm nghía ước ao… và bây giờ ước mơ đã thành hiện thực. Cả buổi chiều đoàn tản mát hết, nhóm thì Cát Cò 1, nhóm thì Cát Cò 2, nhóm thì đi mãi ra Cát Cò 3 để tắm biển. Tuy vậy ngắm nghía là chủ yếu thôi chứ nước có vẻ lành lạnh, trời có vẻ cũng không được sáng sủa lắm nữa. Bãi tắm Cát Bà không dược dài như ở Nha Trang nhưng nước cũng trong, cát cũng mịn và sạch như vậy. Thú vị là hay có những tảng đá lớn, sẫm màu nằm rải rác trên cát tạo cho bãi tắm một khung cảnh dường như tự nhiên hơn và thơ mộng hơn. Cát Bà còn được gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trong 1969 hòn đảo của vịnh Hạ Long. Theo truyền thuyết thì tên Cát Bà là do Các Bà đọc trại ra mà thành. Nguyên thuỷ vì thời các ông theo Thánh Gióng đi đánh giặc Ân thì các bà trú trên đảo này và lấy đảo làm căn cứ hậu cần để phục vụ cơm nước cho các ông đóng quân ở đảo bên cạnh. Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng bởi vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ của mình.

Đi ăn tối thì ở nhà hàng ngoài phố. Không biết ngày xưa khi Tào Tháo muốn mua chuộc Quan Vân Trường nên đãi 3 ngày một tiểu yến, 5 ngày một đại yến thế nào chứ cả chuyến đi này thì ngày nào với chúng tôi cũng ngày 3 bữa là đại yến cả, mỗi bữa 9-10 món chưa kể tráng miệng, toàn đặc sản, ở biển đây thì tôm hùm, mực ống, cá mú tươi rói ngọt lừ, còn trên đồng rừng thì như đã nói ở trước toàn gà chạy bộ, lợn cắp nách, cá suối…thịt thơm, chắc, ngon ngọt. Lúc đầu của cuộc hành trình này cả hội còn háo hức lắm, đi đến đâu là ăn uống sạch sẽ đến đó, hàng trứng vịt lộn cũng làm láng cả gánh, vào hàng bánh Huế thì ăn đến nỗi gia đình người ta không còn cả bột để làm bánh phải chạy ra ngoài đường gọi hàng rong vào bán tiếp, tào phớ, nước mía gì cũng vậy…Vậy mà sau chuyến đi này nghe chừng có vẻ ủê oải cả. Bắt đầu thấy chán ăn!!! Trong bữa ăn tối tại nhà hàng, Huyền Vân và Thanh Hương cám ơn cả đoàn nhất là những gì cô Tường trong những ngày qua đã làm cho đoàn nói chung và cho hai chị em nói riêng, rồi chia tay với mọi người vì sáng mai hai chị em sẽ về thăm gia đình ở gần đây.Tối sau khi ăn, ai nấy đều đi phố dạo. Thực ra phố dọc bờ biển cũng không dài, chỉ có một đoạn thôi và hàng bán đồ trang sức nhất là ngọc trai đã chiếm gần hết dãy phố rồi. Lê chọn mua được một vòng tay bằng xà cừ trắng rất đẹp cho Trang, Thu chọn cho Trà My được một mặt dây chuyền bạc đính đá rất thanh mảnh và đẹp. Hoàn cũng định mua một đồ gì đó cho Tuấn Đức. Toàn là những thứ mình, các bậc phụ huynh, thích chứ chắc gì thanh niên chúng nó đã thích. Nhưng chúng nó có hiểu đâu đấy là cái tình của mình đối với chúng, nghĩ đến chúng, nhiều khi chúng cứ tự nhiên nói những câu hay cư xử đến là buồn lòng… Không biết ngày xưa có lúc nào mình cũng vậy, làm buồn lòng bố mẹ mình không nhỉ? Và không biết chúng sau này khi bằng mình có lúc nào lại ngồi than phiền con cái với nhau như mình bây giờ không? Ôi cuộc đời, cái vòng kim cô của tạo hoá…Rồi Đức và Hoàn đi gội đầu, Thu và Tố Vân đi sơn móng tay… Xong cả hội đi bộ tà tà về khách sạn để hưởng cái không khí trời đêm trên đảo.

20/3

Sáng ra, sau khi ăn sáng cô Tường và Đông đi về Hải Phòng trước về việc gia đình nhưng rồi chiều sẽ lại gặp nhau ở Hải Dương nhà Hoàn. Từ tối qua cô Tường đau lưng quá không biết làm sao, mọi ngưòi ai cũng lo vì thực ra cô Tường đi còn dẻo dai gấp mấy „thanh niên“ của đoàn ấy chứ. Nhỡ cô Tường bị làm sao thì nguy to, không biết cô có ngồi nổi bus từ đây về HN không đây? Hy vọng có khi cô chỉ bị trật trẹo gì qua loa thôi. Cả hội thì nhàn tản ngồi đấu hót với nhau mãi ở hiên Restaurant của khách sạn. Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cát Bà và hưởng thụ. Những ngày này quả thật thuần tuý là hưởng thụ mà thôi. Cho bõ những ngày tháng chật hẹp nơi phố phường, chỉ chạy từ termin nọ đến termin kia vật vã mưu sinh để tồn tại cũng đã quá hao tổn sức khoẻ rồi. Cuộc sống vô cùng ngắn ngủi, thoắt một cái tóc trên đầu đã bạc, mắt đã mờ, chân đã run… vậy mà cuộc đời thì toàn những điều khổ ải, không sức khoẻ thì gia đình: chồng con cha mẹ anh em, họ hàng, bè bạn hay công việc cơ quan, nhiệm sở…làm ta đau đầu suy nghĩ. Tại sao mình không thể làm cho mỗi phút giây đang sống này có ý nghĩa hơn? Mình đã sống tận lực vì chồng con gia đình, vì công việc… thì tại sao bây giờ mình lại không sống cho mình nhỉ? „Nhân sinh đắc ý tu tận hoan“   mà bởi

„Quân bất kiến

Cao đường minh kính bi bạch phát

Triêu như thanh ti mộ thành tuyết „

cơ mà. Lý Bạch từ ngàn xưa đã nhắn nhủ với hậu thế trong „Tương tiến tửu“ như vậy. Biết vậy cả đấy mà rồi cuộc sống nó cứ cuốn hút đi, thời gian thì trôi quá nhanh nên khi muốn được hưởng thụ thì thường muộn mất rồi, nhiều khi sức khoẻ không cho phép ta nữa, khi thì có những hoàn cảnh bất khả kháng cản ta lại… Mà không nghỉ ngơi thì làm sao có sức để “tái sản xuất“ được? Đó là còn chưa kể đến việc “Đi một ngày đàng học một sàng khôn“ nữa đấy. Trên quan điểm vậy nên từ nhiều năm qua, hàng năm VINAPHUNU luôn tổ chức các cuộc du lịch lớn nhỏ dài ngắn, trong nước, ngoài nước khác nhau và động viên mọi người cùng tham dự. Và luôn thành công đem lại nhiều niềm vui, nhiều ý nghĩa cho mọi người.

Trưa, xách valy đi check out mà mọi người ai cũng còn luyến tiếc biển trời Cát Bà, nhất là khách sạn tuyệt vời này. Thật là “Một đi một bước một dừng“…Một xe khách đón cả đoàn trước nhà hàng để chở ra bến cảng tàu cánh ngầm đi sang Hải Phòng. Sợ quá, xe đã chật cứng rồi mà tài cứ cho nhồi thêm vào, đi một đoạn lại thêm người, không cần ngoái lại xem khách ngồi thế nào, cứ tống vào miễn là có đủ bàn chân để đứng được mà hành khách thì nào dám phản đối bởi nhìn những cái mặt bặm trợn, chửi thề như chỗ không người thế thì ai dám dây vào. Đã lâu lắm rồi không phải đi xe khách đường dài nên đã quên mất những nỗi chuân chuyên ngày ấy và vẫn còn của thế gian bây giờ nên hãi hùng quá chuyến xe đó dù là đi không lâu vì chỉ ra đến bến tàu cao tốc thôi. Đã đành là tàu cao tốc ở Đức, ở Hồng Kông thì không thể so sánh rồi nhưng mà ở SG đi Vũng Tàu cũng không tệ thế nên đi qua đến Hải Phòng rồi, lên bờ rồi mà cả hội vẫn còn cãi nhau là có phải tàu cao tốc không? Người thì bảo bẩn thỉu thế và chạy như rùa ấy thì chỉ là phà thôi, kẻ thì bảo nghe giới thiệu và đọc trên bảng ở bến thì thấy đề là tàu cao tốc đấy… Tóm lại là tàu cao tốc nhưng chất lượng thì chỉ đáng là phà thôi. Sang đến bên HP thì Thắng bạn Thu và Mạnh đã chờ ở quán Toan đi nhờ về HN. Vì công ty của Thắng tại HP làm giũa móng tay bằng thuỷ tinh để xuất khẩu đi các nước nên lên bus Thắng có „uỷ lạo“ toàn thể chị em mỗi người một cái, màu mè tuỳ chọn. Chị em hết thảy khoái trí lắm. Đến Hải Dương cả xe đổ bộ xuống nhà Hoàn. Cô Tường, Đông và gia đình đã đến trước. Bố mẹ và em Hoàn nồng nhiệt vô cùng, nhất là mẹ Hoàn. Cô vui mừng hồ hởi và cả bọn không ai thấy mình là khách cả mà cứ đều thấy mình như chính là Hoàn về nhà vậy. Cô đã chuẩn bị bánh cuốn với giò, chả và bún riêu theo yêu cầu. Loáng một cái, mỗi người một tay một chân là giữa sân nhà một bàn dài đã linh đình thịnh soạn. Katharina biểu diễn violine tặng gia đình để cám ơn sự đón tiếp thịnh tình đầy tình cảm ấm áp chân thành. Các bạn Đức trong cả chuyến đi và sau này cứ luôn nhắc với sự vô cùng ngạc nhiên về tình cảm của tất cả các gia đình dù là nông thôn hay thành thị, dù là trí thức hay nông dân, dù giầu nghèo khác nhau nhưng đều rất chân thành, nồng nhiệt và các bạn chúng ta ai cũng tự nhiên như được về chính nhà mình, mỗi người đều xúm vào dọn rửa hay sắp xếp loáng cái là xong. Chỉ Conni là không ngạc nhiên lắm bởi đã quá quen với tác phong của VINAPHUNU, một tác phong đã được rèn luyện, một nếp nghĩ, nếp sống, nếp làm việc đã xây dựng từ 2 chục năm nay là cùng chung sức đồng lòng trong mọi việc. Điều mà không phải ở đâu cũng làm được và chúng ta luôn tự hào về điều đó đúng không hả Lêchen, Vânchèo, Nga „phá đoàn“, Đông, Hưỡn, Hoàn, Hiện, Hiên, Tố Vân…? Nhà Hoàn có một cây quất trĩu quả chắc của Tết còn lại, đẹp lắm. Hình như Đức có vẻ „nghí ngoáy“ lắm rồi thì phải. Nói oan cho Đức chứ thực ra những hộp quất mà Đức „design“ hình như là sướng mồm cho cả đoàn ấy chứ, lớp thì do ho hen kèn cựa phải cần đến, lớp thì do cười đùa hò hét quá mà khản giọng cũng phải cần đến… và có kẻ thì do cả đôi như Thu chẳng hạn. Trước khi ra về cô còn tặng quà cho mọi người đặc sản Hải Dương là bánh gai và bánh đậu xanh nữa. Đúng là người Hải Dương chọn có khác, ngon tuyệt vời cứ y như cái anh Hải Phòng chọn cua bể bao giờ cũng chắc nịch, còn người Hà Nội chỉ cần nhìn mặt cốm là biết có phải của làng Vòng mỗi sớm thu về hay không? Chia tay với cô chú và các em, xe chuyển bánh về Hà Nội, Hoàn cũng vẫn lên cùng để còn nốt chương trình ngày mai nữa thì mới chính thức kết thúc „ chuyến công tác“ này.

Về đến Hà Nội thì Vânchèo đã chờ sẵn đoàn để đưa vé đi xem múa rối nước cho các bạn Đức và gia đình chị Ngọc. Múa rối nước là loại hình nghệ thuật truyền thống dân gian độc đáo của người Việt. Ra đời từ khoảng mười thế kỷ trước, múa rối nước luôn là một trong những trò vui được yêu thích của nông dân đồng bằng Bắc Bộ mỗi khi làng vào Tết hay có lễ, hội. Buồng trò rối nước gọi là nhà rối hay thuỷ đình thường được dựng lên giữa ao hồ với kiến trúc cân đối trông giống như mái đình làng. Nghệ nhân thì cũng đứng dưới nước, trong buồng trò, sau phông che dùng sào, thừng, vọt để điều khiển những con rối cử động nhảy nhót, hát ca, đấu vật, làm việc… Buổi biểu diễn rối nước thường rất vui và nhộn nhịp huyên náo bởi lời ca, tiếng trống, mõ, tù và, pháo thăng thiên, pháo chuột nổ đì đùng, ánh sáng lung linh huyền ảo…

Còn lại cả hội lại rủ nhau đi cà phê cà pháo. Đang ngồi thì thấy Hiển chồng Hiên chở cu Hiếu đến bởi theo như Hiên nói thì cả hội đang xem múa rối nước. Ấy mới biết ở đời „Cao nhân tất hữu cao nhân trị“ thật. Hiển cho con vào tận rạp tìm mẹ thì không thấy, gọi lại bấy giờ Hiên mới nói rằng „…Đang xem thì chán quá nên cả hội rủ nhau đi uống cà phê…“. Tất nhiên là Hiển ta không tin rồi, chở con ra „dằn mặt chơi“ cho biết thế thôi. „Dối chồng thì còn được chứ không được dối con đâu nhé“ có lẽ là câu nói thứ ba hay nhất của chuyến đi Hiên nhỉ, sau câu của Sáu và của mấy cựu phạm nhân kia. Tuy thế Hiên vẫn về ngủ với đoàn vì vẫn đang trong thời gian“công tác“ nên không được bỏ đoàn, như thế là „phạm kỷ luật“, đúng không Hiên? Thế là Thu sung sướng quá khi Hiên vẫn về ngủ với Thu tối nay, ở khách sạn King Crown số 87 phố Huế này, nơi chỉ cách ngôi nhà thân yêu từ thuở thơ ấu của Thu chưa đến một con phố… ngôi nhà mà đến bây giờ mỗi lần đi qua ngước lên Thu vẫn như thấy trên ban công dáng mẹ mình trong chiều tà bên khóm hoa quỳnh dịu dàng gọi „Hoài Thu ơi“ của những ngày xưa. Mới đấy mà đã “Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên“ rồi…

21/3

Hôm nay, nếu không vì nước sông Hồng cạn thì kế hoạch nguyên thuỷ của cả đoàn là đi tour trên sông Hồng đấy chứ. Thấy bảo là bây gìơ đội Thể Công chuyển bãi tập xuống bãi giữa sông Hồng rồi vì nước cạn lắm, đá bóng thoải mái ở đó được. Nguyên do nghe nói thì nhiều nên không biết chắc chắn là do đâu hoặc giả là do tất cả cũng nên. Chỉ có điều là hơi tiếc vì nếu nước sông mà đầy thì ta có thể trên thuyền đi thăm được biết bao điạ danh xung quanh HN như làng nghề Bát Tràng nổi tiếng với nghề làm đồ gốm, hay làng tranh Đông Hồ, hay đền thờ Thánh Gióng , một trong „Tứ bất tử“ của VN hay thăm chùa Kiến Sơ là nơi mà Mẫu Hậu và Lý Thái Tổ khi xưa đã tu tập ở đây. Nói thì nói vậy thôi, chứ vẫn biết „Gặp thời thế thế thời phải thế“ nên Thu và cô Tường lập tức triển khai kế hoạch hai, kế hoạch dự trữ, là cả hội sẽ „trảy“ lên mạn ngược lần nữa. Đích đến hôm nay là lên Thái Nguyên thăm gia đình Dung Hùng và gia đình Oanh là những thành viên lâu năm và là những người bạn chân thành của VINAPHUNU, sau đó tham quan hồ Núi Cốc, một trong những thắng cảnh nổi tiếng của Thái Nguyên. Ở HN thì thấy trời đất còn được, nghĩa là còn khả dĩ, sáng sủa. Càng đi càng thấy mù mịt, mưa gió vần vũ, tối tăm. Tuy vậy rồi cũng đến được Thái Nguyên vô sự. Gần vào thành phố thì với sự chỉ dẫn của Hùng xe đỗ đúng giuýt trước của nhà Dung. Nhà Dung từ vài tháng nay có chuyện buồn là cậu Nguyện em trai chẳng may bị tai nạn qua đời rất trẻ, để lại vợ và hai con thơ. Chính đấy cũng là một lý do Thu muốn lên Thái Nguyên để ngoài chuyện thăm hỏi còn muốn được thắp hương chia buồn với gia đình Dung, vì cái tang này quá lớn, quá sốc với Dung và gia đình. Bạn bè tình thâm chính là để ta sẻ chia với nhau cả những bất hạnh trong cuộc đời, những bất hạnh mà rồi mấy ai tránh khỏi. Bố mẹ,chị và các em Dung đều rất nồng nhiệt đón khách. Đoàn đã được nhiều gia đình, tổ chức đón tiếp nhưng chưa thấy ở đâu trịnh trọng như gia đình Dung cả. Bố Dung thắt cà vạt ra đón và tiếp đoàn, Hùng thì đã đành là lúc nào cũng nghiêm chỉnh rồi, còn Đạt em trai Dung trông cũng rất trầm trọng. Thu nhìn lại cả đoàn thì đúng là một đoàn du lịch nên trông hơi xộc xệch nhưng cũng may chắc các bác và gia đình lấy cái tình làm trọng nên vui mừng và rất nồng nhiệt pha trà rồi hoa quả, trò chuyện .. mãi. Vì là đất nổi tiếng của trà nên ai trước khi đi cũng muốn mua một ít trà về làm quà, thế là bác gái dẫn sang nhà bên cạnh là „lò“ trà để rồi có người mua dễ đến vài ký mang đi. Trước khi đi, Elke và Conni còn đi tìm mãi cháu gái bé bỏng rất dễ thương của Dung mà đã cùng chơi đùa cả buổi với nhau để chào mà rồi không thấy nên cả hai cứ băn khoăn mãi. Chị gái, em dâu Dung không cùng đi được vì còn việc bận ở nhà. Thế là chỉ có hai bác, Hùng và Đạt em trai Dung tháp tùng cả đoàn sang nhà Oanh. Đến nhà Oanh, chào hỏi gia đình xong trong lúc mọi người ngắm nghiá cơ ngơi thì Hùng chở Thu, Nga và Conni với tư cách là trưởng và hai phó đoàn của đoàn CLB VINAPHUNU ở Berlin đến gặp mặt thân mật với Phó Chủ tịch Tỉnh Thái Nguyên. Conni uống một hơi hết 4 ly rượu ổng mời. Thu thấy Conni „gân“ quá hỏi ngon lắm à. Conni trả lời vì không thấy ai uống hết nên phải uống hộ mọi người chứ xỉu đến nơi rồi đây. Hãi quá, phần cũng vì mọi người đang chờ ở nhà Oanh nên nháy Hùng vội vàng cáo lui. Về đến nhà Oanh thì mọi người cũng vừa chiêm ngưỡng xong khách sạn 11 tầng với nội thất cực kỳ hiện đại và tiện nghi như ở các khách sạn đầy đủ tiêu chuẩn bên này vừa tấm tắc phục lác mắt sự tài ba tháo vát của Trâm em gái Oanh. Mà cỗ bàn đã chuẩn bị xong hết do một tay Trâm „đạo diễn và thiết kế „luôn. 10 món mà món nào cũng ngon và rất vừa miệng không hổ tiếng của người tốt nghiệp trung cấp nấu ăn ra Trâm nhỉ. Chỉ hơi tiếc là mọi người không ai còn ngốn được như những ngày đầu của chuyến đi nữa vì nhu cầu về vật chất là hữu hạn mà đặc biệt là do tuần Sapa -Hạ Long mỗi ngày ít nhất là một „đại yến“ nên đành tiếc rẻ ngồi ngắm. Tiếc cả công Trâm hì hụi tự tay vào nấu nướng chế biến cho cả đoàn nữa ấy chứ mà đành chịu. Chuyện trò, hàn huyên mãi mà trời vẫn không hề ngớt mưa. Ngó thấy đất trời vẫn ủ ê, thấy việc ra hồ Núi Cốc giờ này là vô nghiã, thậm chí còn nguy hiểm nữa nên lấy biểu quyết thì chỉ có mỗi Katharina là muốn vẫn ra hồ còn thì tất cả bảo lại quay về để có thêm ít thì giờ đi dạo HN cũng tuyệt. Thế là chụp ảnh kỷ niệm với gia đình Oanh và bố mẹ Dung Hùng- đồng tác giả của bữa tiệc đãi đoàn hôm nay- chia tay mọi người, xe bon bon trở lại đường cũ.

Trên đường đi, về gần đến HN, Thu chính thức nói lời kết thúc chuyến hành trình xuyên Việt của chúng ta. Hy vọng, sự thành công của chuyến đi cũng như sự cố gắng của CLB để đem đến niềm vui cho mọi người nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập ASIATICUS-VINAPHUNU và hướng tới Đại Lễ 1000 năm Thăng Long, sẽ được toàn thể ghi nhận và mọi người đều hài lòng vì đó là một chuyến đi bổ ích, lý thú và có nhiều ý nghĩa. Thu thay mặt VINAPHUNU cám ơn cô Tường và Đức về sự giúp đỡ không mệt mỏi trong khâu tổ chức mà suốt cuộc hành trình đòi hỏi cũng như sự tham gia đồng lòng của tất cả các thành viên trong đoàn, sự chân thành nhiệt tình đón tiếp của tất cả các gia đình thành viên và đặc biệt là sự ủng hộ, giúp đỡ của cô Tường và gia đình. Thiếu một trong những yếu tố đó đều không thể làm nên sự thành công của chuyến đi này được.

Như vậy, chỉ với ba tuần mà ta đã được trải nghiệm bao điều lý thú.

Ta đã đi dọc Việt Nam từ Nam ra Bắc, đã len lỏi trên những kênh rạch của đồng bằng sông Cửu Long rồi lại ngang dọc đồng bằng châu thổ sông Hồng, từ trên miền núi cao của Tây Nguyên, Buôn Mê Thuột, ta xuống Nha Trang ra quần đảo Hòn Mun, Hòn Sỏi, Hòn Tre, từ Sapa của Hoàng Liên Sơn ta xuống vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà tắm biển. Ta đã ở những thành phố lớn như Sài Gòn “Hòn ngọc Viễn Đông“, Hà Nội thủ đô cả nước nhưng lại cũng từng qua những vùng nông thôn hẻo lánh của cả ba miền còn nghèo xác xơ.

Ta đã cưỡi voi ở Đắc Lak trên dòng Sêrêpôc chảy xiết, ngủ trên thuyền buồm ngoài vịnh Hạ Long, đi tàu hoả lên Lào Kai, ngồi trên xích lô dạo Nha Trang, Hà Nội, đi tàu cao tốc từ Cát Bà về Hải Phòng, hát hò vang khắp sông Tiền khi đang trên thuyền dạo chơi, cùng xe bus ta đã xuyên Việt Nam trong cả những đêm trăng sao đầy trời lấp lánh.

Ta đã từng được thưởng thức trên sông Hương ca Huế mà đã được nổi tiếng qua

„Nẩy nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi

Lòng nâng ngòn ngọt ở đầu môi

Này em hát khúc tương tư nhé

Ngân khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời“

của Văn Cao để rồi „Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh“, mà lại cũng được đắm mình trong không khí lễ hội của văn hoá cồng chiêng Ede, hay cái lả lơi í a của nàng Thị Màu trong chèo hay cái không khí huyền hoặc trong lễ hầu giá đồng cô Bơ với hát chầu văn của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, mà lại cảm động đến rơi nước mắt khi những thiếu nữ miệt vườn Cần Thơ đồng bằng Cửu Long ca khúc „Dạ cổ hoài lang“, ngắm nhìn sự uyển chuyển duyên dáng của các vũ nữ Chàm ở Mỹ Sơn mà nghĩ đến múa rối nước tưng bừng trống, phách, pháo nổ trong những ngày lễ, hội ở làng quê sông Hồng, đêm ngồi ở phòng trà Sài Gòn nghe một nghệ sỹ nghiệp dư ít tên tuổi tỉa ghi ta mà lòng quay quắt nhớ Hà Nội những ngày thu, để lại nức nở với Mr. Đàm „Xin lỗi tình yêu“ rồi cùng diễn viên khóc cười nhân tình thế thái với kịch nói Sài Gòn.

Ta đã từng chiêm ngưỡng biết bao pho tượng Đức Quán Thế Âm, Đức Thích Ca Mầu Ni trong vô số chùa chiền Phật giáo trên suốt dọc chặng đường đi từ Nam ra Bắc, đã từng ngắm nghía những bước nhảy nhẹ nhàng thoát tục của các vũ nữ Apsara trên các bức phù điêu ở Tháp Bà Ponagar Nha Trang hay trên những tháp cổ „lở lói rỉ rê than“ ở thánh địa Mỹ Sơn mà tự hỏi đến bao giờ mới có câu trả lời về kỹ thuật xây cất tuyệt vời của những tháp thờ Ấn Độ giáo này của người Chămpa, từng thăm thú đạo Dừa ở cồn Phụng, Tiền Giang và Toà Thánh Cao Đài ở Tây Ninh để hiểu được thêm sự phong phú trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ, nhưng lại cũng đã từng nghĩ về mối cảm tình vô vọng của Quasimodo với Esmeranda khi ở „Notre Dame“ Hà Nội, Sài Gòn hay khi đến nhà thờ đá Phát Diệm Ninh Bình, một công trình kiến trúc rất đặc biệt mang cả hai phong cách Á Âu của buổi đầu sơ khai Công giáo ở VN , rồi để cầu may đã vuốt chân tượng ngài Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh, một trong tứ quán đạo Lão nổi tiếng của HN hay kính cẩn trước miếu Khổng Tử ở Hội An, trước tượng thờ ngài cùng các môn đệ ở Văn Miếu Hà Nội để rồi cảm nhận được sự  thấm đẫm cũng  như ảnh hưởng đặc biệt của Khổng giáo trong văn hoá Việt, nhưng rồi cũng đã từng giữa cái nóng khô rát của cao nguyên Nam Trung phần đi thăm văn hoá nhà mồ của người MNông hay trên thung lũng Mường Hoa trong cái lạnh mờ sương của Sapa tham quan Bãi Đá Cổ với những tảng đá mang hoa văn hoạ tiết của người xưa từ hàng ngàn hàng vạn năm mà cho đến giờ vẫn mãi là câu hỏi với các nhà nghiên cứu.

Ta đã có mặt ở bảo tàng Phụ nữ Nam bộ để hiểu biết thêm về vai trò của người phụ nữ phương Nam trong văn hoá cũng như trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tham quan bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở TpHCM cũng như Địa Đạo Củ Chi, một bảo tàng mở, hay bảo tàng Lịch sử QSVN ở Hà Nội đều mang lại cho ta kiến thức rất nhiều về cuộc chiến tranh đã qua, hiểu thêm thế hệ cha ông bố mẹ ta đã sống và chiến đấu ra sao và để ta hiểu thêm cái giá của sự độc lập của đất nước ta hôm nay.

Dù không phải là những số tiền thật lớn nhưng những gì ta cố gắng làm đều thể hiện phần nào tấm lòng của VINAPHUNU, đó là số tiền quyên góp được nhân các triển lãm mở vào dịp Tết cho bếp ăn của những bệnh nhi gia đình nghèo ở bệnh viện Nhi Đồng Tp HCM qua Hội Phụ nữ Tp HCM, cho nạn nhân chất độc màu da cam thông qua Báo Phụ nữ VN, những trường hợp khó khăn của Báo ANTG hay cho chương trình „Giải thoát những thú đang bị hành hạ và giáo dục trẻ em ở bậc tiểu học việc bảo vệ ĐVHD“ của WWF Greater Mekong hay các cháu học sinh lớp tiếng Việt ủng hộ cho các bạn ở Quỹ Học sinh nghèo ở Đông Hà.

Ta đã từng là khách được tiếp đón trang trọng giữa những nơi sang trọng, giữa những con người quan trọng nắm giữ những trọng trách của nhà nước, chính phủ nhưng trên hết cả là ta lại đã từng được những con người giản dị, bình thường như nông dân ở Củ Chi, ở Tiền Giang, ở Huế, những người bán hàng rong ở chùa Trấn Quốc, hồ Hoàn Kiếm, Nha Trang hay ở bất cứ nơi nào ta đi qua, những người phụ nữ HMông, Dao Đỏ, Giáy hiền lành đáng mến ở Sapa, những người đã một thời lầm lỡ ở nước Đức mà nay trở về quê hương Quảng Bình, Nghệ An… đón tiếp, trò chuyện tin cậy và chân tình, thân mật. Dù là những trí thức có những vị trí nhất định trong xã hội như giáo sư, phóng viên, bác sỹ, cán bộ các viện, giáo viên dạy trung học, đại học cho đến những nhân viên hướng dẫn du lịch vui vẻ từ Sapa- Hạ Long- Cát Bà cho đến Buôn Mê Thuột, Tiền Giang, những người lái xe thân thiết cho cả chuyến đi hay các gia đình thành viên trong đoàn ở khắp nơi đoàn đi qua từ Củ Chi, Sài Gòn, Nha Trang, Huế, Đông Hà, Hà Nội, Hải Dương, hay Thái Nguyên đâu đâu cũng đều để lại cho ta những tình cảm đáng trân trọng.

Ba tuần đó ta đã ít nhiều có được cái nhìn khái quát về VN trên mọi lĩnh vực như địa lý, văn hoá nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo, lịch sử; được biết và trải nghiệm thú vị với bao loại phương tiện giao thông; ta đã được thăm thú biết bao nhiêu những danh lam thắng cảnh tự nhiên trên suốt chặng đường hơn 2 ngàn cây số đó và cả chặng hành trình suốt dọc đất nước ấy ta đã được gặp gỡ, làm quen với bao con người, bao số phận…

Về đến HN quả nhiên trời hết mưa từ bao giờ. Ngày mai chia tay với VN rồi nên các bạn Đức đều muốn ngắm nghía phố phường HN vừa là mua chút gì làm quà kỷ niệm cho gia đình bạn bè mà vừa là để lưu giữ lại những hình ảnh kỷ niệm cho một chuyến đi không dễ gì có lại lần thứ hai trong đời. Nên khi Thu cùng bạn đi mua sách cho CLB thì vì là giờ tự do nên mỗi người tản đi một hướng. Tối nay là đêm cuối cùng chia tay với nửa đoàn nên các bạn Đức mời các bạn Việt cà phê và ăn bánh ngọt ở Thủy Tạ. Suốt cả thời thơ ấu của chúng tôi mà thấy hôm nào được bố mẹ cho đi Bờ Hồ ăn kem, ra Thủy Tạ hay Bodega (có người bảo rằng đó là gọi tắt của bò, dê và gà?!) ăn bánh kem thì có khi mất ngủ cả tuần vì hồi hộp ấy chứ. Riêng cái tên thôi là Thủy Tạ hay Thủy Toạ cũng đã tốn bao nhiêu giấy mực rồi. Người thì bảo là từ ý là đình, tạ mà ra, người thì bảo là vì trên mặt nước nên gọi là toạ. Chẳng hiểu thế nào nhưng với bọn trẻ con chúng tôi thì chỉ quan tâm đến bánh kem mà thôi mà trên mỗi bánh còn có bông hồng bằng kem thơm mát, ngọt lịm nữa. Bây giờ Thuỷ Tạ „cũng thường thôi“ nhưng vẫn là một địa chỉ đẹp cho những người yêu HN bởi người ta tìm về đó là để tìm về những kỷ niệm của ngày xưa, của dĩ vãng. Trường hợp có rất nhiều hàng bánh tôm ngon hơn nhưng ta cứ nhất nhất hoặc theo thói quen do kỷ niệm dắt dẫn lại phải về ngồi ở Hồ Tây thì mới thấy bánh tôm đó là ngon cơ cũng nằm trong ví dụ này. Ngày mai mọi người còn dậy sớm ra sân bay nên chúng tôi cũng không ở muộn quá. Chụp mấy bức ảnh kỷ niệm rồi thong dong nhàn tản chúng tôi thả bộ quanh Bờ Hồ về tận khách sạn, dọc đường tất nhiên đã kịp ghé vào hàng vằn thắn đêm ở đầu THĐ rồi. HN về đêm với hương dạ hương hay ngâu, sói gì đó làm cho thành phố có một phong vị đặc biệt. Liệu có phải thế không hay là do tình yêu với HN đã làm nên điều đó nhỉ? Có nhiều câu hỏi trong cuộc đời mà có lẽ ta nên luôn để ngỏ, đừng bao giờ tìm một sự trả lời rõ ràng cả nó sẽ mất đi cái hào quang quyến rũ quanh nó…

22/3

Sáng nay cô Tường đã thuê một xe bus để đua mọi người ra sân bay. Buổi sáng thì có Katharina, Conni, Bettina, Heike, Susanne, Elke và cô Tường, Đông. Mãi đến tối thì Hưởng và Nga mới bay chuyến cuối của ngày. Thực ra thì Đông và cô Tường chưa cần bay đâu mà có thể ở lại ngoài HN chơi với cả hội thêm mấy ngày cho vui nhưng vì cô Tường vô cùng chu đáo nên muốn đưa các bạn Đức về đến tận SG, lên tận máy bay sang Berlin thì mới an tâm được nên „bắt“ cả Đông cùng vào để còn làm phiên dịch. Thu và Tố Vân cũng dậy sớm cùng mọi người để đưa đoàn sang Nội Bài. Chẳng hiểu nghe ngóng truyền đạt thế nào mà xe và mọi người đã lên đến gần Yên Phụ rồi thì thấy Hưởng ơi ới handy là em xỏ được quần áo xuống nhà để cùng đi tiễn sang sân bay thì thấy mọi người đi hết rồi. Thu bảo Nga Hưởng cứ ngủ nốt đi, Thu đi đưa mọi người xong rồi về ngay , có chương trình đi chơi cho cả ngày. Sang sân bay mọi việc xong xuôi êm đẹp vì vấn đề chính là ở trong Nam cơ. Ở đây thấy ai cũng đã lễ mễ lắm rồi mà lại còn đồ gửi Sáu Kim chở vào trước nữa thì không hiểu thế nào đây? Tố Vân và Thu ôm hôn mọi người, chào tạm biệt hẹn gặp lại ở Berlin với các bạn Đức còn với cô Tường và Đông thì mấy hôm nữa ở SG.

Xe lại chở Thu và Tố Vân về HN. Leo lên khách sạn thì Hiện đã về Hải Phòng rồi. Cả chuyến đi chỉ có mấy ngày này là cho gia đình thôi nên phải tranh thủ ghê lắm. Hôm qua trên đường từ Thái Nguyên về, Hoàn đã xuống dọc đường vào nhà Tùng để rồi hôm nay lại quay về Hải Dương với bu. Chỉ còn Hưởng và Nga trên phòng để chờ chuyến bay tối nay vào SG. Thế là soạn sửa đồ ra hết để trả phòng vì mình sẽ đi chơi cả ngày. Đức đến, thế là cả hội ra Nam Ngư uống cà phê, ăn sáng rồi lại lòng vòng lang thang suốt cả ngày trời ở HN. Và biết đâu vì ngày này mà rồi Nga cứ nằng nặc chắc chắn sẽ quay trở lại HN một ngày gần nhất. Buổi trưa thì Mạnh đãi mọi người ở nhà hàng cơm quê có vụ „đập niêu“ rất kỳ thú đến nỗi Nga cứ bảo giá có tiền mà mua được anh chàng chuyên gia đập niêu kia về đập cho bõ ghét vì cái mặt anh ta quá ư là vênh váo. Ngọc Dũng bố của Bình Minh hộc tốc phóng xe từ Đức Giang về để gặp Thu một tí. Xong được bữa trưa thì đã đúng giờ hẹn với báo ANTG về việc trao tiền ủng hộ cho những trường hợp khó khăn của báo mà CLB đã tổ chức triển lãm „Tranh Hàng Trống“ Tết năm nay để quyên góp. Đây là công việc cuối cùng của đoàn trong chuyến đi lần này. Cuộc tiếp đón cũng vui vẻ, nhiệt tình. Có các phóng viên của Báo, có Phó Tổng Biên tập Báo Đặng Văn Lân và chị Loan (Thắng mời chị đến vì biết Thu bực mình việc báo hỏi số  tiền quyên góp) là phu nhân của Phó Tổng Biên tập phụ trách nội dung Nguyễn Như Phong. Chỉ có một điều làm chúng tôi cứ gờn gợn mãi là không hiểu sao khi gọi điện thoaị nói chuyện về cuộc hẹn cũng như lúc Tố Vân đến toà báo thì người tiếp chuyện cứ hỏi chúng tôi là số tiền quyên góp sẽ là bao nhiêu để „tiện“ viết hoa đơn?! Quả thật chúng tôi không lý giải được sao lại có những câu hỏi thô thiển đến như vậy, cho dù là có đúng là để tiện viết hoá đơn đi chăng nữa. Những câu hỏi như vậy chắc chắn sẽ làm phiền lòng không ít người hảo tâm bởi dù là một số tiền rất ít thì cũng là một tấm lòng chứ . Tấm lòng đâu có chỉ phụ thuộc vào giá trị của vật tặng đâu nhỉ.

Vì có hẹn nên sau khi „giao nhiệm vụ“ cho Thắng và Mạnh mà thực chất là nhờ giúp thì Thu tạm rời các bạn trong vòng vài tiếng đồng hồ để rồi khoảng 6 giờ rưỡi Thu lại quay trở lại một quán cà phê ngồi đấu hót với Nga và Hưởng trước khi lên đường. Cô Nết, bà nội của Thuỳ Mai, cũng đến chơi. Bao nhiêu năm rồi mới gặp lại mà cô vẫn trẻ đẹp và rất „phong độ“. Cô cháu nhẩn nha trò chuyện cũng lâu lâu thì đến giờ taxi đến. Thế là Nga và Hưởng từ biệt HN. Đến nửa đêm,đoán chừng đã đến nơi, Thu goị điện vào thì biết cả hai đã về đến nhà an toàn rồi. Mừng.

Trong lúc đó ở Tân Sơn Nhất cô Tường và Đông đang lo cho chuyến trở về của các bạn Đức sao cho thật là trọn vẹn. Thực ra vào đến SG cô Tường còn muốn bố trí cả hội đi chơi SG lần nữa, sao cho đỡ phí một ngày chờ đợi này nhưng rồi các bạn Đức cũng muốn được nghỉ ngơi đôi chút cho chuyến bay xa và để sắp xếp đồ đạc nữa nên thôi. Hàng họ thì mỗi người cũng đã ứ hự ra rồi nên việc mang thêm sách cho CLB là hầu như không thể. Vậy mà cuối cùng cô Tường và Đông vẫn bằng „tài năng“ của mình đã giải quyết trót lọt được 2 chục kýlô sách cho thư viện. Tóm lại là thắng lợi giòn giã và phương pháp này của Đông sẽ được ghi nhận trong „binh pháp“ của mỗi chuyến đi. Không bật mí vì sợ lộ! Khi xong xuôi nhẹ nhõm chuẩn bị vào máy bay thì cô Tường gọi điện thông báo tin mừng và để Conni, Katharina, Elke, Susanne, Bettina và Heike chia tay qua điện thoại với Thu và các bạn còn lại ở HN.Từ chập tối hết Đức thì lại Hiên gọi điện rồi gặp nhau là ai cũng thăm hỏi vụ các bạn Đức về như thế nào, OK hết chứ và ai cũng chờ đón ngày mai tin các bạn về đến Berlin an toàn. Có ba tuần thôi, mà ba tuần ấy đã làm chúng ta gắn bó với nhau biết bao nhiêu, yêu thương nhau nhiều hơn, quan tâm đến nhau nhiều hơn. Tất nhiên cũng bộc lộ nhiều nhược điểm mà nếu như không có chuyến đi này ta không có cơ hội để nhận biết được. Nhưng dù là gì đi chăng nữa thì chúng ta cũng cảm ơn chuyến đi lịch sử này bởi những tình bạn đã xây dựng từ bao năm qua sẽ được củng cố hơn, ta hiểu nhau hơn, quý nhau hơn và trân trọng hơn những gì mình đã có với nhau. Và lại phải càng cảm ơn hơn nếu chỉ có ba tuần thôi ta đã biết thêm về một con người mà rất có thể ta sẽ bị nhầm lẫn trong tương lai.

Khi đã hoàn toàn an tâm về chuyến đi của các bạn Đức mà chỉ còn chờ tin “khải hoàn“ ngày mai thôi và Nga, Hưởng đã yên vị trên máy bay thì tối nay Tố Vân, Đức, Thu và Vânchèo đi xem hát ở Nhà hát Chèo HN. Vé mời do chú Khôi nguyên trưởng đoàn Chèo HN và đồng thời là ông cụ thân sinh ra Vânchèo mời. Buổi diễn khá ấn tượng nhưng hơi tiếc là vô cùng vắng khách. Thu cứ tiếc là không nhét vào đâu được trong chương trình đã kín mít của mình nữa, chứ giá mà mọi người được thưởng thức thêm những loaị hình nghệ thuật đặc sắc của Đồng bằng Bắc bộ như chèo, quan họ hay chầu văn với các giá đồng này thì hay quá. Tất nhiên là chủ yếu diễn các show ngắn như là một cách để giới thiệu các thể loại mà thôi chứ thực tình không phải là các vở lớn, dài hơi. Nên có những diễn viên chưa thật điêu luyện và cũng chưa thật hết mình. Nhưng hết mình làm sao được khi rạp trống vắng như vậy? Đấy chưa kể đến vấn đề thực tế là cơm áo gạo tiền của diễn viên phụ thuộc rất nhiều vào lượng khán giả, rồi sự hưng phấn, sáng tạo nghề nghiệp của mỗi diễn viên trên sân khấu tuy có khác nhau nhưng cũng chịu tác động rất nhiều ở sự ủng hộ cổ vũ của khán giả. Chẳng phải là diễn viên gì mà mỗi lần Thu đang phát biểu không thấy ai quan tâm, nhìn xuống thấy mọi người đang „buôn dưa lê“, chơi cờ karo hay tệ cũng không kém là ngủ gật chẳng hạn thì không thể nào còn hứng thú gì nữa và tiếc cho mình dày công sưu tầm, đổ mồ hôi cho việc này. Mà đây là bệnh chung của người Việt mình. Nhiều khi bực vô cùng nhưng rồi đâu lại hoàn đấy, có nhắc nhở cũng chỉ được một tí thôi. Thôi thôi lại lan man ra đề tài muôn thuở này thì đến bao giờ mới hết được? Tuy thế Thu cũng nói với Vânchèo rằng nếu biết tiếp thị tốt, nghĩa là „chào hàng“ tốt ví dụ như múa rối nước chẳng hạn thì chắc chắn Nhà hát Chèo với các tiết mục của mình sẽ rất được ưa chuộng. Và rồi nó như một cái vòng ấy. Khi có khán giả thì diễn viên có nhiều lý do để diễn tốt hơn, mà khi đã diễn tốt hơn thì rồi khán giả cũng sẽ nhiều lên. Diễn viên nuôi khán giả và khán giả lại nuôi diễn viên ấy mà. Nhưng Vânchèo bảo ông bô về hưu rồi chị ạ. Vẫn biết điều đó không phải không ai biết và trong một cơ chế mà để thực hiện được là vô cùng khó khăn, nhưng Thu cứ băn khoăn mãi về điều này vì giá như Nhà hát Chèo làm được thì có phải không những chỉ đem lại cho khách du lịch một cái nhìn tổng quát tuy là sơ sài thôi về những loại hình nghệ thuật của văn hoá đồng bằng châu thổ sông Hồng mà còn chính là sự tiếp sức để gìn giữ chúng nữa. Nhưng thôi, bàn về những chuyện này nó mệt lắm. Mỗi người ra về đều vui và đều bâng khuâng như khi ta gặp lại cố nhân vậy (mà cứ cái đà này thì chả mấy chốc mà Chèo trở thành cố nhân thật ấy chứ chẳng chơi). Mỗi người được tặng và mang về làm kỷ niệm một miếng trầu têm cánh phượng rất khéo.À, tối nay có anh trai của Vânchèo là một nghệ sỹ cải lương nhưng lại rất quen mặt trên phim VN đi xem cùng. Thế là chuyến đi này, chúng ta được làm quen với nhiều nghệ sỹ nhé. Từ lão nghệ nhân Ede hát kể chuyện của bản Đôn và lão nghệ nhân người Chăm với kỹ thuật thổi kèn điêu luyện (mà sau đó vô tình được nhìn thấy trên một chương trình giới thiệu về văn hoá VN ) đến Pop Star Ms. Đàm, nghệ sỹ kịch nói quen thuộc của kịch nói phương Nam là Việt Anh,cô đào Thanh Vân, nghệ sỹ hài Minh Nhí rồi nghệ sỹ đa năng Xuân Bắc, diễn viên phim Hùng râu và bây giờ là nghệ sỹ cải lương đồng thời là diễn viên phim Trọng Nguyên.Thú vị đấy chứ nhỉ.

Chia tay nhau, Thu về lại quán xá với bạn bè. Sau đó làm việc cho Blog đến 2 giờ sáng. Kể từ đầu chuyến đi, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, đây là đêm đầu tiên không ngủ „giao lưu“ nữa, ai lại về nhà nấy. Hôm nay cô Tường đã đỡ đau lưng hẳn chưa? Hiên đang „bắn súng lục, bơi thuyền rồng“ ở phủ Giày, đền Sòng hay ở đền Cây Xanh Tuyên Quang? Các bạn Đức đang bay trên trời giờ này đây. Mọi việc ổn cả chứ? Hoàn ở Hải Dương, Hiện ở Hải Phòng gọi điện lên HN, Đông gọi từ SG ra, Lêchen và Đức gọi hỏi tình hình cân ký của đoàn về, gọi vào SG cho Hưởng Nga… Nhớ mọi người và mọi người nhớ nhau. Mới đấy mà tất cả lại đã thành kỷ niệm rồi… 3 tuần có nhau trôi nhanh quá … Lại nhớ câu thơ cụ Nguyễn Khuyến gửi cụ Dương Khuê khi xưa sao mà vận vào cái thời khắc này nó đúng thế

„Tương tư lọ phải là chăn gối

Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng“…

23/3

Rất sốt ruột về kết quả của việc điều tra vụ trộm cắp tài sản của đoàn trên chuyến tàu Lào Kai-HN đêm 17/3 mà cho mãi đến giờ vẫn chưa thấy „động tĩnh“gì dù biết rằng Hội LHPNTW đã can thiệp và chị Nguyễn Thị Thanh Hoà Hội trưởng đã đánh công văn yêu cầu Bộ CA “vào cuộc“ nghĩa là làm chuyên án nên sáng Thu gọi điện cho chị Hoài Giang, Trưởng ban Đối ngoại và Quốc tế của Hội để nhờ chị thứ nhất là yêu cầu Trạm CA Ga Hàng Cỏ gửi cho biên bản mất cắp và biên bản làm việc vụ trộm này, thứ hai là yêu cầu Viện Khoa học Giám định Hình sự của Bộ CA trả lời bằng văn bản kết quả khám nghiệm tang chứng của vụ trộm trên chuyến tàu từ Lào Kai đêm 17/3 rạng ngày 18/3 rồi vì không thể chỉ trả lời miệng là dấu vết rất mờ, không rõ ràng là đủ. Sau đó cô Thanh Giang cán bộ của Hội đã liên hệ với Thu nhiều lần để chỉnh sửa biên bản cho đúng với yêu cầu của mình. Các chị bên Hội rất nhiệt tình không phải chỉ uý lạo tinh thần ngay lúc xảy ra sự việc hôm đó mà sau đó chị Trần Thị Lan, Ủy viên đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Tổ chức Hội ngay khi Đoàn còn ở Cát Bà đã liên hệ ngay để trả lời kết quả giám định, và Thanh Dung cán bộ Hội vẫn tiếp tục theo dõi và liên hệ làm việc với CA…

Bettina gọi điện cho Thu ngay trên đường từ sân bay về nhà. Mọi người hạ cánh an toàn về đến nhà khoẻ mạnh. 20 ký lô sách được Conni thu gom lại ngay (vì để mang được trót lọt một thùng đã phải xé lẻ ra) và mang về CLB. Thế là yên tâm, nửa đoàn đã bằng an trở về. Còn nửa đoàn nữa cùng 50 ký lô sách và hàng triển lãm còn phải lo nữa đây. Nhưng không sao. Hạ hồi phân giải. Đức và Thu ngồi tại nhà Thu và làm việc viết blog từ 12 giờ đến 15giờ. Thực ra từ hôm ở Nha Trang đến giờ có lúc nào hai cô cháu ngồi viết được đâu dù lòng lúc nào cũng như lửa đốt vì biết mọi người đang mong và đang theo dõi từng bước đi trên chặng đường thiên lý của VINAPHUNU. Nhưng có hôm về đến khách sạn đã quá khuya mệt phờ, có nơi thì không có máy tính bởi trên núi cao hay ngoài đảo xa thì thậm chí đến cả handy cũng không gọi được ấy chứ, nơi có máy tính thì xếp hàng không biết bao giờ đến nơi …và ngoài ra hai đêm đã là trên xe bus rồi. Cũng may là Đức đều có sổ ghi chép lại hàng ngày nên chủ yếu Thu ngồi là bổ xung thêm những ý cần thiết hay những chi tiết còn thiếu mà thôi. May quá đoàn không chỉ có cô Tường, người chỉ huy tài ba lỗi lạc của cả chuyến đi (vừa là mẹ để lo lắng, vừa là bạn để tâm tình, vừa là đầu bếp lo từ miếng xôi gấc miếng thịt gà ăn đường xa, kế toán trưởng lo việc tài chính, vừa là hoạt náo viên kể chuyện vui cho cả xe cho đường bớt xa…) mà còn có Đức (một cô gái VN tiêu biểu của TK 21, vừa hiện đại, vừa truyền thống, vừa lịch duyệt nhẹ nhàng dễ thương lại vừa quyết đoán trong công việc) trong chuyến đi này chứ nếu không thì Thu vừa là nhiếp ảnh gia, vừa là „quay phim gia“, vừa là „phát âm…giúp“, vừa thuyết trình văn hoá lịch sử cho cả đoàn, vừa ghi chép, vừa viết blog, vừa „tổ chức sự kiện“… thì sợ Thu không thể về được đến nơi để ngồi viết blog hồi tưởng này cho quý vị thưởng thức. „May mà có em, đời còn dễ thương“ Đức nhỉ. Ngồi viết những dòng này đây là đã sau cả nửa tháng vậy mà Thu cứ thấy như tiếng cười của Đức vẫn như đâu đây…Một tiếng cười ít còn thấy giữa cuộc đời này, thánh thiện và trong vắt như ban mai. Nghe tiếng cười đó ai cũng có cảm giác mình phải tự soi lại lòng mình vậy. Và Thu biết rằng chắc không ít anh chàng sẽ mang vào cuộc hôn nhân của mình tiếng cười của Đức làm hành trang cho cuộc sống vốn buồn nhiều vui ít này. Thế là đoàn mà cụ thể là Thu quả như tướng số nói từ bé là có quý nhân phù trợ. Nhưng Thu ngẫm rằng và rất hay tâm sự với bạn bè thân thiết là nếu lòng ta mà sáng, tâm ta trong thì đến „quỷ thần cũng phải nể“ và ta thường luôn được giúp đỡ thành công và sự thành công của VINAPHUNU là một minh chứng.

Sau đó cả hội gồm có Vânchèo, Đức và Thu hẹn nhau ở trên Hàng Bông nhà chị Tố Vân để đi ăn cỗ cưới cháu chị ở tận dưới Ngã Tư Sở. Lêchen bận công chuyện nên đến chậm một lúc. Do phải chạy show sang một cuộc hẹn nữa nên cả hội cám ơn lời mời của gia đình, chúc cô dâu chú rể hạnh phúc đến đầu bạc răng long mà lòng thì nghĩ đến câu chúc rất buồn cười của ông Ngạn trên Paris by Night. Tất nhiên là không nói vì sợ vừa lộ ý này ra chí ít nhẹ thì bị mắng là quá vô duyên (cũng tự thấy vậy), còn nặng ra thì mình có thể „răng long“ngay chứ không phải cô dâu chú rể 3-4 mươi năm nữa đâu. Tố Vân ở lại vì đám cưới còn đang dềnh dang, cả hội về. Xe chạy qua nhà, cả hội nếu không vì có hẹn trước với lũ bạn Thu thì đã lên chơi thăm gia đình anh Thịnh anh trai Lê rồi. Nhưng món bún thang tuyệt vời rất hấp dẫn kia do Diệu Hương nấu đãi Thu và cả lũ bạn phổ thông của cái thời „Nhất quỷ nhì ma“ đang chờ đón. Sợ muộn, thế là Vânchèo, Đức và Thu về nhà Diệu Hương ngay. Một buổi tối như buổi tối hôm nay, được gặp lại và ngồi bên những người bạn thân thiết thuở thiếu thời, ôn lại những kỷ niệm hay thậm chí chỉ để bông phèng tán láo với nhau dăm ba câu chuyện thôi ấy vậy mà rồi nhiều khi chính những điều tưởng rất bình thường ấy lại là những cái neo trong cuộc đời này mỗi khi ta thất vọng hay cay đắng ê chề… Chia tay nhau khi HN đã vào khuya.

24/3

Sáng nay Hằng phi xe máy trông rất „hầm hố“ đến đón Thu xuống Văn Điển thăm mộ Song. Mới đấy mà rồi Song mất đã gần 3 năm. Song là một người bạn rất vui tính của CLB. Tuy làm việc ở VN nhưng mỗi khi sang Berlin thăm vợ con Song hay đến thăm CLB. Song đi đến đâu là mọi người cười nghiêng ngả đến đó vì những câu chuyện hóm hỉnh của mình và đặc biệt là Song hát rất hay. Nhớ năm nào đám cưới Hằng Liên Thu và Song còn chụp chung cái ảnh rất đẹp. Kỷ niệm về Song thì nhiều lắm. Nhìn mấy cái rá to bự cũng là Song mang sang tặng CLB năm nào, rồi sách truyện…lại nhớ Song nhiều. Hôm kỷ niệm 15 năm thành lập VINAPHUNU Song còn dự và chụp ảnh kỷ niệm nữa mà. Vậy mới biết đời vô thường thật. Mới cười cười nói nói đấy mà rồi vĩnh viễn mất nhau, mà rồi đã nằm vĩnh viễn dưới mộ sâu. Thời gian đầu chỉ sợ Hằng không qua được nhưng mà rồi cũng may trời phú cho đàn bà sức mạnh dẻo dai ghê gớm để họ vượt qua được những khó khăn tưởng chừng như không qua nổi bởi họ không chỉ phải mỗi trách nhiệm mang nặng đẻ đau mà còn chăm bẵm nuôi nấng con cái khi ốm khi đau nữa. Sau đó Hằng về VN mang theo cả cu Đức về và rất mừng là cuộc sống mẹ con Hằng rất ổn định. Hầu như ai về có thời gian đều đi thăm mộ Song vì Song là một người bạn quý của VINAPHUNU. Văn Điển thay đổi rất nhiều. Khang trang lên nhiều và sạch sẽ ra nhiều. Hàng lối thẳng thớm. Nhìn cái nhà cải táng lại nhớ Dũng Tí bảo đêm ở đây đèn đuốc sáng choang, đi lại tấp nập „Mỗi ông một khay trên tay, đầy đầu lâu, xương ống… cứ như đi ăn Buffett. Trông kinh bỏ mẹ“.

Từ 14 giờ đến 17 giờ Đức và Thu lại tranh thủ giữa những cuộc hẹn ngồi làm việc. Tất nhiên là lại viết Blog chứ thời gian còn ở HN ít quá hai cô cháu chỉ sợ không xong được nên khi Thu phải đi đám cưới thì lại hẹn nhau tối nay làm việc tiếp. Đám cưới Trâm con Chương Thuý ở khách sạn Melia. Đông, vui và rất lịch sự, ít có đám cưới nào ở HN được như vậy. Nhìn Trâm trong bộ đồ váy áo cưới trắng muốt lại nhớ mới ngày nào cháu còn ẵm ngửa, cả nhà từ SG ra ăn đầy tháng cháu, hôm đó làm ngoài sân nhà ở Nguyễn Thượng Hiền. Khi đó có khi Thu còn trẻ hơn Trâm bây giờ. Thời gian trôi nhanh quá. Rồi đã gần 20 năm khi Trâm tặng Tyty mấy con ốc mà Tyty vẫn giữ đến bây giờ làm kỷ niệm. Có những tình bạn mà càng có tuổi ta càng hiểu hơn, quý trọng hơn, có những tình bạn từ thuở mười một, mười hai, chơi nhiều thế hệ từ con cái chơi với nhau, rồi bố mẹ quan hệ, chơi với chị thì cũng là bạn của em, rồi lại đến cháu chắt… qua 4-5 chục năm. Đó chính là tình bạn với gia đình Uyên Thuý vậy. Những tình bạn đẹp nâng đỡ ta biết bao nhiêu trong cuộc sống này. Những tình bạn mà ta cứ nói đùa rằng từ lúc „bình tĩnh, sạch sẽ, khô ráo“ lần này đến lúc „bình tĩnh, sạch sẽ, khô ráo“ lần sau. Nhưng lần sau thì còn có thêm đi lễ nữa. Nói đến chuyện đi lễ của các bà lại nhớ có ông chồng không thích vợ đi lễ vì như thế có khác nào liệt mình vào lớp các cụ rồi nên bảo vợ là „Anh không thích ngủ với bà đi lễ đâu nhé“. Thế mà có hiệu nghiệm ngay đấy. Bà vợ lập tức ở nhà không đi lễ nữa „cho nó trẻ“.

19 giờ chị Vinh, Đức, Vânchèo đón Thu ở trước Melia. Thu về thay áo dài rồi lại cùng cả hội đi chơi ăn trứng vịt lộn, sủi cảo rồi lại cùng Thắng và Mạnh đi uống cà phê ở quán trong Cung Hữu nghị Việt Xô. Đến khốn khổ khốn nạn vì cả buổi bị tra tấn bởi bài nhạc chúc mừng sinh nhật mở đi mở lại oang oang theo yêu cầu của bàn bên cạnh. Cho nên , tất nhiên cũng bởi vì bài vở còn thúc giục nên lúc 22 giờ là „bãi triều“ để Đức và Thu còn làm việc tiếp. Đêm nay hai cô cháu làm việc đến 2 giờ sáng. Đức không muốn ngủ lại nên Thu đưa Đức ra tận ngoài đường, nhìn theo Đức mãi khi thấy nhảy lên một xe ôm rồi Thu mới quay về và làm việc tiếp cho đến 4 giờ sáng. Lòng phấp phỏng lo âu cho đến sáng hôm sau khi thấy mặt Đức hơn hớn ló vào mới thật sự yên tâm. Nỗi lo cả đêm ấy sẽ đựơc rút ngắn đi nhiều nếu Đức không quên handy ở nhà Thu.

25/3

9 giờ sáng Đức đã sang Thu vì cô cháu „Chỉ còn một hôm nay nữa thôi, mai cách xa mỗi người một nơi“ rồi. Thu mắt mũi cũng nhập nhèm vì ngủ quá ít triền miên. Đức hôm qua về muộn quá mà nghe đâu đêm hôm kia còn uống rượu với Hải thì phải đến tận 5 giờ sáng nên trông cũng „xộc xệch“ lắm. Nói vậy chứ khi vào việc là hai cô cháu chỉ cần vào đề xong là phấn chấn ngay. Tuy thế hôm nay là ngày cuối cùng Thu ở HN nên bạn bè đến chia tay nhiều, cứ chốc chốc lại phải ngừng để tiếp khách. Tất nhiên mấy đứa thật thân và hiểu thì Thu có rỉ tai bảo tao phải xong bài này gấp, mày về nhé, tao với mày quan trọng gì những thủ tục rườm rà nhiêu khê kia. Thông cảm cả. Nhưng không phải với ai mình cũng nói được như vậy dù là thân đi chăng nữa nên nhiều khi thù tạc ngồi mà lòng thì như lửa đốt vì sợ hôm nay không xong thì nguy. Có Đức gánh cho phần tiếng Đức này chứ không thì „căng thẳng“ lắm, vì muốn hay không Đức lớn lên bên này tiếng tăm chắc chắn là phải giỏi hơn nhiều chứ. Cuối cùng rồi cũng xong hết, về mặt nội dung. Sẽ còn gửi cho Tyty sửa nhiều rồi mới cho vào được nhưng về cơ bản là xong. Nhẹ được nhiều vì như vậy chí ít là blog đã xong, cho công chúng. Còn nhiều việc lắm từ soạn ảnh, sắp xếp, làm phim, làm album, làm đĩa ảnh… nhưng xong được blog bằng tiếng Đức cũng là xong được một việc chính. Đức và Thu cùng có chung một niềm vui như vậy. Đó là niềm vui của những kẻ biết chắc sự cố gắng của mình sẽ mang lại niềm vui cho người khác.

Rồi 13 giờ Hương A cũng chở được Thu đi làm „nhiệm vụ quốc tế“ là lên Nhà XB Văn học để mua sách thì thấy vắng như chùa Bà Đanh „Đầy thềm lá rụng biết người ở đâu“. Lên xuống mấy lần để tìm không thấy ai cả, gọi di động mãi thì mới thấy ông GĐ là người duy nhất có ở cơ quan vì mọi người đang đi triển lãm sách ở trong Nam và quan trọng nhất là vì cơ quan đang sửa nên không mở cửa bán sách như thường lệ, phải hai tuần sau mới hoạt động lại thì mời hai em đến mua sách. Rồi ông chỉ cho Hương và Thu xem những kiện hàng chật ních chen kín lối đi mà ban nãy hai đứa phải lách mãi mới vào được để minh chứng cho những điều ông vừa kể. Nếu không vì quá kẹt về thời gian thì chắc thế nào Thu cũng ngồi đấu hót tiếp đó để tìm hiểu nhưng còn mấy cuộc hẹn đang chờ mà mai thì đã „…Cánh buồm nâu, cánh buồm…“ rồi nên thôi. Đó là một người đàn ông có lẽ không chỉ mỗi hình thức mà nội dung cũng có vẻ thú vị đây. Rồi về Viện Văn vào thư viện để tìm mấy số báo đăng tin về chuyến đi của đoàn cũng như giải thưởng của Tyty và Nemanja để làm tư liệu cho CLB nhưng không thấy, chắc do vội. Thế là hai đứa ra Đinh Lễ mua sách, 30 ký nữa để giao nhiệm vụ cho những vị đi từ HN như là chị Vinh, Hiên và Vânchèo. Thắng, bạn vàng của Thu, và Mạnh, bạn vàng của Thắng, lại có mặt để giúp đóng gói và chở về. Cả ngày Thu vẫn phải làm việc bằng điện thoại liên hệ với Thục Hạnh, Tổng Biên tập báo PNVN, về việc bài vở đã đăng, với Thái Vân ở VN TTX, Lê Phương Trưởng Ban QT của Báo Đất Việt về việc phỏng vấn hay là với Chương và Uyên để lo vụ quá ký lô ngày mai vào SG và hôm 30/3 sang Berlin. Nói chung là rất lắm việc còn phải giải quyết từ giờ đến cuối tháng. Đấy là còn chưa kể đến vụ việc mất trộm cứ canh cánh bên lòng, lúc phải điện đến Hội xem diễn tiến đến đâu, có câu trả lời gì chưa, lúc thì phải tham khảo ý kiến của những cán bộ chuyên ngành hay những người có kinh nghiệm ở nhà… Vẫn biết rằng cái phương pháp làm ăn kiểu cho người ta sẽ chán nản mà tự thôi nhưng sao nghĩ đến vừa uất vừa bực không thể chịu được. Trước một cái sự việc gần như hiển nhiên như thế mà ậm oẹ mãi, không làm việc nghiêm túc đến nơi đến chốn, thái độ hách dịch thậm chí còn muốn bẻ queo đi. Nhắc đến những chuyện này là không thể chịu được dù có thiền bao lâu đi chăng nữa. Và cái tệ nhất là luôn luôn được nhân danh một cái gì đó. Qủa thật lòng Thu thấy thương những người dân đen thấp cổ bé họng, không hiểu biết gì thì chắc chắn ở nơi cửa quyền trước một rừng chữ nghĩa, luật pháp được mọi thứ nhân danh nêu ra là sợ quá đi chứ.

Rồi lại phải tức tốc quay về nhà vì có hẹn phỏng vấn của Báo Đất Việt về chuyến hành trình xuyên Việt này của VINAPHUNU. Mặc dù không thích làm việc với phóng viên lắm (kể cả với phóng viên Đức) vì thường là cẩu thả, nghe ngóng viết lách chẳng hiểu sao rất ít khi mà có một bài báo là không có lỗi. Mà những lỗi rất vớ vẩn như tên tuổi năm sinh tháng đẻ gì đó thôi. Và cái quan trọng là thái độ xử lý với cái lỗi ấy thế nào mới là đáng bàn ở đây. Còn lỗi là điều mà có thể xảy ra với bất cứ ai và bất cứ lúc nào.Thế nhưng Thu vì lý do công việc lại rất hay phải đụng chạm đến báo chí và thường họ để lại những ấn tượng không mấy dễ chịu. Biết thế là không công bằng nhưng bây giờ bảo một người đang đỏ mặt tía tai vì cái sự cay đến xé lưỡi của quả ớt hiểm vừa nhai phải rằng không phải quả ớt nào cũng cay như vậy thì liệu họ có dám nhai ngay một quả ớt khác không? Cho dù lý trí bảo họ là điều ta nói là đúng. Nhưng làm việc với hai phóng viên của Đất Việt này rất dễ chịu. Và cái dễ chịu nữa là báo có thư xin lỗi vì có một lỗi trong bài báo. Điều mà Thu chưa thấy bao giờ ở báo VN. Nhớ cách đây chục năm khi các báo ở VN đều đăng sai tên Thu nhân dịp giải thưởng „Người PN xuất sắc“ của Berlin do nguồnVNTTX đăng sai mặc dù thông cáo báo chí của Tiểu Bang Berlin gửi đến ĐSQ ta cũng như trên các phương tiện truyền thông rõ ràng là thế. Khi gặp ông Trưởng Phân xã ở một hội nghị Thu cũng rất vui vẻ đùa đùa hỏi ông về lỗi đó thì được ông ra uy cho rằng ý là được ông viết bài cho là phúc lắm rồi. Bực quá Thu mới hỏi ông về 5 chữ W mà ai trong nghề này cũng phải quán triệt. Giá như ông xin lỗi thì vấn đề sẽ được nhìn nhận khác đi. Đó là kỷ niệm gây ác cảm đầu tiên của nghề này. Kỷ niệm thứ hai là hai năm sau đó Thu được Tổng thống CHLB Đức tưởng thưởng Huân hiệu Huân chương Công trạng vì những thành tích ABC cho cộng đồng người Việt. Một cán bộ VNTTX nói em mang cái Huân chương này lên cho anh xem rồi anh viết bài (cho). Điên tiết, Thu đánh lại một fax nói rằng thiết tưởng việc này có lợi cho cộng đồng cũng như công việc của một phóng viên TTX là anh, nên nếu anh thấy có nhu cầu thì mời anh đến mà xem. Rất nhỏ mọn là sau đó chỉ có báo PNVN và PNHN đăng tải tin này do Chủ nhiệm ASIATICUS gửi tin đăng chứ không hề có một báo nào của Việt Nam như lần trước vì TTX không đăng đúng như lúc anh ta nói mà như doạ Thu rằng chỉ có tin nhờ TTX mà thôi. Đây không phải vấn đề cần đánh bóng tên tuổi gì bởi thật ra „Hữu xạ tự nhiên hương „ thôi. Và cái người mà đã dấn thân vào công việc này thì những điều ấy còn quan tâm gì nữa. Nhưng có điều phải được biết vì đó là điều có lợi cho cộng đồng VN. Vì ở trên một đất nước mà mình đã có quá nhiều tai tiếng rồi thì điều này đem lại vinh quang chứ. Vậy mà đã có phóng viên của VNTTX cư xử một cách thiển cận, nhỏ nhen như vậy.

Đêm nay là đêm cuối cùng ở HN đây khi bài vở đã tạm xong. Thu được „triệu“ đến Nam Ngư ở quán cà fé hay ngồi thì đã thấy Thắng, Mạnh, Hiền bạn gái Thắng cùng một người bạn, Vânchèo, Đức và Hải bạn “lưu niên“ của Đức (như Thắng với Thu vậy) ngồi đó rồi. Cà phê đấu hót à ơi mãi thì đứng dậy chia tay các bạn của Thắng. Muốn ăn khuya, Vânchèo, Thu, Hải và Đức đi bộ ra Cấm Chỉ là phố ăn đêm duy nhất còn mở muộn ở HN, chứ còn thì cứ đúng 11gìơ khuya là mặc kệ khách còn muốn ngồi nữa hay không không biết, chủ nhà xếp dọn bàn ghế lên là tự động đứng dậy mà về nếu không muốn bị chủ quán nhẹ thì liếc xéo nếu không thì cũng chửi chó mắng mèo sao đó cho đến lúc cuốn xéo thì thôi… (Chà chà ở SG không có như dzậy đâu nghe). Bún ngan và đọc thơ cho nhau nghe. Nghe thì thấy không lãng mạn lắm nhưng không hiểu sao sau bát bún ngan ý thơ lại lai láng đến như vậy và Thu có nhu cầu phải đọc cho Đức và Vânchèo nghe thơ, từ VHC đến XD, HC …và rồi đến của Hoài Thu. Hải lẽo đẽo dắt xe máy theo sau như muốn để cho chị em có một khoảng không gian riêng như vậy. Hải là typ người mà gặp người ta thấy tin cậy ngay và hiểu rằng trong cuộc đời ta sẽ vô cùng hạnh phúc vì có những người bạn đáng tin cậy như vậy, họ luôn luôn bên ta dù nhiều khi chỉ là trong tâm tưởng những lúc ta khốn khó, hoặc chỉ đơn giản ngồi đó và lắng nghe ta ba hoa chích choè những chuyện không đầu không cuối, để khi ta vui thì họ là những người bạn thật lòng và vô tư chia xẻ cùng còn khi ta buồn họ sẽ là bờ vai cho ta dựa vào mà nỉ non tâm sự. Họ không bao giờ là người gây phiền cho ta ở đám đông, không đòi hỏi, thậm chí họ sẵn sàng chịu oan ức về mình miễn là ta được bằng an … và tình bạn với những người đó không hề phân biệt giới tính, họ là những người mà chỉ đơn giản mô tả là những người bạn vàng. Cuộc đời thật hạnh phúc khi có những người bạn hết mình như vậy. Đưa Vânchèo rồi đưa Thu về nhà xong Hải và Đức mới về. Hà Nội khuya lắm rồi, đã sang một ngày mới từ lâu. Chỉ có thời khắc này ta mới cảm nhận được đó là HN của ta như những ngày xưa xa xôi, vắng lặng, dịu dàng đến nghe được cả tiếng lá rơi…

26/3

Bởi 9 giờ sáng đã bay từ Nội Bài vào SG nên sáng nay phải dậy sớm dù đêm qua đi chơi về quá khuya. 7 giờ, Thu, Vânchèo và Tố Vân hẹn nhau để cùng đi chung sang Nội Bài vì Lê đi từ nhà sẽ gần hơn, Hoàn sẽ từ Hải Dương, Hiện từ Hải Phòng ra thẳng sân bay. Đúng 7giờ kém 10 phút thì Thu mang đồ đạc ra cổng chờ vì như vậy sẽ tiện hơn cho xe khỏi phải lách vào mà không chạm phải ai đó vì hẻm này tuy không phải là chật chội nhưng hàng quán kín mít cả hai bên. Tuấn em trai Vânchèo chở đến rồi đi ngay. Anh chị và cháu của Tố Vân và chú của Thu lưu luyến cho đến khi xe chuyển bánh. Thắng và Đức lên xe vì muốn

“…Tôi tiễn đưa em đến tận thuyền

Để dài thêm hạn cuộc tình duyên…“

chăng? Có một người đứng xa xa mà chắc đang nhủ lòng

„Người đi một nửa hồn tôi chết

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ“.

Sang đến sân bay thì đã đủ cả (cả Ngọc). Anh Lai và con gái, chị Thời của Hiện cũng từ Hải Phòng đi tiễn, còn Hoàn thì em rể đưa đi. Chỉ còn mỗi Lêchen là chưa thấy đâu cả mà quầy làm thủ tục thì đã thấy vãn vãn rồi. Đúng khi đó thì thấy Lê gọi báo là đang bị kẹt vẫn ở rìa HN vì tắc đường ghê quá. Dù đã cố tình nấn ná để chờ nhưng rồi mọi người vẫn phải vào làm thủ tục. Thu không cho mọi người gọi vì sợ Lê cuống mà không giải quyết được gì. Cân ký thừa 20 ký lô 3 thùng hàng triển lãm của CLB nhưng Thu đã nhờ Chương Thuý làm việc từ hôm qua nên OK cả. Vấn đề bây giờ chỉ là Lê nữa thôi vì đã muộn quá rồi. Các quầy đã hết người cân hàng và họ chuẩn bị đóng quầy rồi. Đành phải gọi Lê thì biết đã qua được chỗ tắc nhưng vẫn còn cả chục phút nữa may ra mới đến được. Lại năn nỉ nhưng cuối cùng thì chính nhân viên tại quầy tuyên bố các chị vào đi, muộn quá rồi, chị kia đến không kịp, phải để vé lại cho chị ấy, còn không chắc chị ấy phải đi chuyến sau vậy. Thu giục mọi người vào trước đi để Thu năn nỉ ráng chờ Lê nhưng nhân viên quầy dứt khoát không chịu chờ nữa và bắt Thu phải vào ngay không quá muộn rồi. Thế là Thu đành phải gọi Lê nói vé Đức sẽ cầm ở ngoài chờ Lê và hộc tốc chạy ra thì thấy Lê hớt hải chạy vào. Mừng quá, Thắng và Đức vội chạy ra ngoài đỡ đồ đạc của Lê vào để là người cuối cùng làm thủ tục. May sao Lê vẫn làm thủ tục kịp vì lúc đó cậu nhân viên quầy do Thu đứng xin xỏ mãi nên chưa kịp quay lưng đi. Thế là lại hộc tốc phóng theo thì mọi người đã vào cả rồi. Đã vội laị càng vội vì thấy em rể Hoàn đứng ở một cổng vào thế là sấn tới. Ai ngờ đó là cổng vào cho người đi nước ngoài. Thế là lại bồng tống nhau chạy sang cổng nội địa, mà có phải ở gần nhau đâu cơ chứ. Thấy Tố Vân vẫn đang hì hục đóng cái valy đang nứt trương lên mãi không được vì người ta soi thấy cái kìm cắt móng tay phải bỏ ra. Thế là Thu nán lại chờ Tố Vân và hai chị em là người cuối cùng của chuyến này lên máy bay. Yên vị xong xuôi trong máy bay thì thấy ồn ào, không biết chuyện gì, Thu quay sang hỏi mới biết lý do Lê bực bõ vì việc tưởng rằng trong lúc đã vội như vậy sợ lỡ chuyến bay mà hỏi Thu ở quầy nào Thu lại tắt máy đi. Thu phải giải thích lại cả hoàn cảnh gấp rút lúc đó mà Thu có nghe thấy Lê hỏi đâu vì Thu nghĩ rằng Tuấn em Lê làm du lịch thông thạo lắm chắc chắn phải biết hãng nào, quầy nào ở đâu… chứ không Thu đã báo ngay rồi cho Lê biết, không cần Lê hỏi. Thế rồi chuyến đi cũng vui vẻ cả.

Sau có tiếng rưỡi thì đến Tân Sơn Nhất. Cô Tường, Mai vợ Rạng Đông, Mích chị Đông và Đông đi đón và rất muốn cả Tố Vân, Vânchèo, Thu, Hoàn, Lê, Hiện lại về nhà cô ở cho vui và tiện. Tấm lòng hiếu khách của cô và cả gia đình làm bọn cháu cảm động quá cô ạ. Thế nhưng không chỉ vì bọn cháu đã có kế hoạch trước cho những ngày cuối ở SG này đâu mà từ chối cô, mà vì bọn cháu hiểu rằng cô đã làm cho bọn cháu quá nhiều suốt gần cả tháng rồi, nên bọn cháu không thể „hành“ cô được tiếp nữa.Thế là nhồi hết vào cả đồ đạc và ngưòi vào 2 xe Mai và Mích lái về nhà Dung, Dung đã chờ ở nhà. Dung cũng mới đi làm về nên nấu vội nồi cơm, xào dưa, lôi giò lụa chả bò Diệu Hương mua cho Thu mang từ HN vào. Thế là có một bữa cơm thật là ngon lành.

Nghỉ một tí, cả hội đi taxi ra chợ Tân Định để mua vải áo dài vì vấn đề áo dài mà phải để đến hôm nay là đã quá muộn rồi nhưng suốt cả chương trình có một kẽ hở duy nhất là hôm thứ 2, thứ 3 gì đó lúc còn ở SG những ngày đầu mới về, đi ĐBCL về quá muộn, cả hội đến được chợ thì chợ đã đóng cửa từ bảy mươi đời rồi. Chọn lựa mãi, mê man vì vải vóc mẫu mã vô cùng phong phú hơn hẳn ngoài Bắc (cũng là một sự thật hiển nhiên), cuối cùng ai cũng chọn được cái mình thích và giá cả rất phải chăng. Ví dụ như nhiều mặt vải may áo dài ở đây giá chỉ bằng một nửa của cũng chính những mặt hàng đó ở những tiệm vải áo dài bên kia đường. Chị Nhung chủ sạp vải này là người rất dễ chịu, Thu và gia đình bạn bè là khách hàng của chị từ nhiều năm qua vì chị là người buôn bán rất đàng hoàng, giá cả lại phải chăng, tính tình xởi lởi và trung thực. Biết bao nhiêu phục trang của Tyty thiết kế cho Xinh.Company là do những mặt hàng từ chị Nhung đây. Thậm chí có lần, chị còn mang vào tận nhà để giao hàng vì lúc mình tìm thì chưa có.

Thế mà rồi cũng chọn lựa mua bán đến lúc chợ gần đóng cửa mới leo được lên taxi để đến Lâm Nguyên đo áo dài. Linh, cô chủ tiệm dễ thương tíu tít cả lên vì tiệm bé quá mà bỗng chốc ồ vào đến 5-6 chị toàn „Ăn sóng nói gió“ cứ như thuỷ thủ cả thế này, ngược hẳn với giọng nói lít nhít của cô. Đo đạc một hồi rồi cũng xong cả hội lại nhảy taxi đến cô Tường vì tối nay là tối hẹn họp mặt có cả Sáu và Kim, ăn cháo lòng vì cô nấu cháo lòng tuyệt ngon và đảm bảo chứ khối người thèm mấy thì thèm bố bảo không dám ăn ở ngoài. Đây là tiền chị tặng cho đoàn từ hôm ở ngoài HN nhưng thực chất là tiền „hối lộ“ cả hội ấy chứ vì „không chịu“ đi với đoàn dù đang ở HN cùng thời điểm này. Nói vậy chứ chị Vinh tiếc lắm, chỉ vì chuyện gia đình đang có nhiều việc phải giải quyết gấp nên chị phải „Đành lòng vậy, cầm lòng vậy“. Nhưng ở 3-4 cuộc hẹn quan trọng khi ở HN như là Tổng Biên tập Baó PNVN, Hội trưởng Hội Liên hiệp PN VN, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN -Tướng Lê Mã Lương, trưởng Đại diện WWF Greater Mekong tiếp đoàn là chị đều tham gia với „tinh thần trách nhiệm cao“. Ấy là còn chưa kể đến khi đoàn còn ở HN là chị thỉnh thoảng còn đi cà phê đêm với cả hội nữa chứ. Vui quá là vui, đến cô Tường cả hội cứ như là trở về nhà vậy. Chỉ tiếc là Sáu và Kim phải đi cùng với một xe khách chờ họ ăn uống nên không dzìa kịp được. Đành hẹn khi khác vậy. Cháo và lòng ngon tuyệt trần. Cậu Hùng lấy hộ mấy tấm ảnh chụp trước Nhà thờ Đức Bà mà trước khi đi ra Bắc còn chưa lấy kịp. Cả hội lấy đồ hôm ngoài HN gửi theo xe Sáu Kim mang vào trước cho đỡ nặng vì bay trong nước mỗi người chỉ được có 20 ký rồi phải về để mai còn đi Mũi Né sớm. Rạng Đông và em trai của Mai hai xe chở các chị và hàng họ về nhà Dung. Nga một mình phóng xe máy giữa trời mưa mịt mù về. Bị lạc đường một tí do „tài lanh“ tưởng là chỗ đó đã là đường Hùng Vương nên phóng thẳng nhưng không ngờ…Thu lo quá gọi handy lại ngay cho Nga nhưng chắc do mưa to nên Nga không nghe. Chỉ thật yên lòng khi sau đó biết Nga đã về nguyên vẹn mà không gặp ai để bắt phải „Hứa rồi đấy nhé“ cả.

Thế là mai Đông bay „một mình“ nghĩa là chỉ có gia đình đi đưa, còn bạn bè cùng đoàn thì lớp thì đã ở Đức, lớp còn nhà thì mai lại đi còn sớm hơn cả Đông. Đông đưa đón chu đáo bao nhiêu bạn bè thế mà rồi khi Đông đi lại chẳng có ai. Dù biết rằng, chỉ mấy hôm nữa thôi lại gặp nhau ở Berlin và hôm nay cả bọn cũng đi khỏi SG sớm nhưng sao Thu cứ áy náy mãi mà không nói được thành lời vì nói ra sợ mọi người bảo dở hơi?! Nhưng sao ở đời có những chuyện nhỏ thôi và biết chắc là người làm ơn không hề có một tí ưu tư nào về chuyện đó nhưng mà sao người chịu ơn là mình đây cứ băn khoăn hoài. Đây là vấn đề tuổi tác hay là tính cách, quan điểm sống? Thôi thì „Tẻ vui cũng tại tính trời“ vậy. Biết làm sao được!

27/3

Để 7 giờ rưỡi xuất phát được đi Mũi Né từ Sinh Café ở Phạm Ngũ Lão / Đề Thám dưới SG thì 6giờ hơn cả nhà đã phải dậy và gần 7giờ thì bắt taxi đi. Sinh Café bây giờ đổi thành TheSinh Tourist và trụ sở ở SG sửa chữa lại khang trang lắm.Từ những năm đầu thập niên 90 khi mà việc du lịch còn hoàn toàn lạ lẫm và mới mẻ ở VN, xuất phát là một quán café có nhiều „Tây ba lô“ đến nên nhu cầu Sinh Café trở thành văn phòng du lịch để đáp ứng lượng khách ngày càng đông cũng là tất yếu. Do có uy tín lại làm ăn nghiêm túc và giá cả phải chăng nên công việc ngày càng phát đạt. Hiện nay chi nhánh của Sinh Café có mặt ở hầu hết các tỉnh thành của VN. Và cũng từ Sinh Café mà nhiều các Café du lịch lấy mô hình này nhân lên và cũng rất thành công.Thu cùng gia đình, bạn bè Đức cũng như Việt năm nào về cũng đi của Sinh Café và đều rất hài lòng, từ đi Nha Trang, Mũi Né nhiều lần đến đi Phú Quốc, hay thậm chí như năm kia sang cả Phnom Penh, Siem Riep Angkor Wat, Angkor Thom nữa. Nhớ năm nào đó, cả chục năm qua rồi,Thu và Tyty đi chuyến xuyên Việt bằng Open Tour của Sinh Café cũng thú vị lắm. Nghĩa là đi chỗ nào mình thích xuống nghỉ vài hôm thì xuống, nhớ đăng ký ở trụ sở của Sinh Café để rồi đúng giờ ấy ngày ấy mình lại lên xe của Sinh Café đi tiếp chặng sau. Thế là hai mẹ con Thu Tyty cứ liên tục nhảy lên nhảy xuống với 3-4 thùng hàng kềnh càng đèn lồng Hội An (cho trang trí, triển lãm Tết ở CLB và sau đó còn dùng làm đạo cụ nhiều lần cho Xinh Company biểu diễn ở Đại Vũ hội Hoá trang – một trong những sự kiện văn hoá lớn hàng năm của Berlin- và Đại Lễ 15 năm thành lập VINAPHUNU ở sân khấu Wabe) và 1 thùng mắm tôm chua cực ngon mua ở Huế để làm quà cho bạn bè ở Berlin. Tóm lại, bằng những kinh nghiệm đã có từ nhiều năm qua thì Sinh Café là một địa chỉ đáng tin cậy và xứng đáng giới thiệu cho bạn bè những ai có nhu cầu đi du lịch ở VN.

Suốt cả chặng đường gần 2 trăm cây số nghiã là gần nửa chặng đường ra Nha Trang xe đi qua bao nhiêu là những ruộng trồng thanh long, một thứ quả đặc trưng của vùng Bình Thuận này vì thanh long trồng ở vùng đất này là ngon ngọt nhất không hiểu do đất đai thổ nhưỡng hay khí hậu phù hợp mà như vậy. Mà xét cho cùng có phải mỗi thứ trái cây này như vậy đâu, hầu như loài nào chẳng vậy như chuyện xưa kể việc Án Tử đi sứ trả lời Sở Vương về việc cây quất trồng ở phía Nam sông Hoài thì cho quả quất ngọt mà trồng ở phía Bắc sông Hoài thì nó lại thành cây chanh gai, quả chua loét. Tất nhiên, với Án Tử, đó là đối đáp trả lời vì biết Sở Vương muốn hạ nhục người nước Tề nhưng ông đã nói về một sự thật của việc trồng trọt trong tự nhiên. Thấp thoáng giữa những chòm lá như những cánh tay dài uốn cong là những trái thanh long chín đỏ, một màu đỏ rất đặc biệt, màu thắm hồng hay còn gọi là màu pink.Thứ quả ngọt, mát, thanh tao này đang dần được ưa chuộng ở châu Âu. Ở Berlin đã thấy bán nhiều ở các siêu thị, điều mà độ dăm năm trước đây chỉ có ở những quầy hoa quả nhiệt đới khó kiếm mà thôi. Cũng rất mong là xuất khẩu được thì đời sống bà con nông dân trồng thanh long vùng này sẽ được cải thiện mà châu Âu thì được biết đến một loại cây nhiệt đới ngon lành. Bắt đầu thấy bóng dáng cô đơn của những tháp Chàm xa xa trên đồi cao là ta biết đã tới Bình Thuận. Từ Phan Thiết đến Mũi Né chỉ còn hơn chục cây nữa thôi. Đường vào Mũi Né có biết bao nhiêu là các khu nghỉ mát, các khách sạn, resort đẹp tuyệt vời. Cái thì tân kỳ, cái thì cổ điển, cái mang phong cách Âu thì cái bên cạnh lại hoàn toàn rất Á… Nghĩa là „trăm hồng nghìn tía“ và đều sát bên bờ biển cả. Chuyến đi vui vẻ và đúng giờ quy định là buổi trưa thì xe đến resort của Sinh Café. Ăn uống xong xuôi, bữa ăn cũng 5-6 món ngon, mỗi người một quả dừa to bự khai vị và hoa quả tráng miệng, nhận phòng, nghỉ ngơi một tí là đi tham quan theo tour. Phòng 3 người, vị chi là 3 phòng vì có 8 người (Dung, Kim Hoàn, Thu, Lê, Tố Vân, Hiện, Hoàn, Vânchèo) và 1 „ngợm“ là Anh Khuê, tên thật của Vuông vì gọi thế „Sợ sáng quá chăng?“. Cả khu resort của Sinh Café này rất đẹp, cây cỏ hoa lá um tùm, phòng ốc trang nhã, đẹp, sạch ở ngay sát biển, đêm nằm nghe sóng vỗ ùm ùm vào kè đá cách phòng khoảng 5 m, có hồ bơi có thác nước nhỏ để massage rất thích… có cả bàn billard mà ông bà Kaiser, Tyty và Nemanja hay chơi sau khi bơi lên. Ấn tượng nhất là trong bồn cầu cũng thả hoa đại thơm ngát. Chỉ một chi tiết nhỏ mà sự hài lòng của du khách được tăng gấp bội. Thế mới hay nhiều khi sự thành công lớn chỉ bắt đầu từ những tiểu tiết bình thường mà không phải ai cũng lưu tâm. Mới lại phàm là cái người mà lo việc đại sự không mấy khi nghĩ đến việc tiểu tiết, còn cái anh mà quan tâm nhiều đến chi tiết thì thường là không nhìn thấy đại cục. Không mấy ai mà trọn vẹn. Ấy thế mới là „Nhân vô thập toàn“.

Nghỉ ngơi được chút xíu thì lên xe đi tham quan thắng cảnh của Mũi Né (nằm trong tour). Trước tiên là đi Đồi Cát Trắng. Cũng dễ phải đến 3 chục cây số ấy, từ Mũi Né ra đến Đồi Cát Trắng. Dọc đường đi, bên phải là dừa xanh, biển xanh và trời xanh, còn bên trái là những đồi cát khi thì vàng, khi hồng và khi thì trắng, sát mép đường đi là cả một trời vi lô hoa trắng phất phơ. Xe dừng lại nơi Đồi Cát Trắng nhưng ta còn phải đi bộ một chút, qua một rừng phi lao thì mới vào đến nơi. Tiếng phi lao vi vu trong gió, không khí dễ chịu vô cùng đến mức Thu cứ ngắm nghía mãi những chú chó rất đáng yêu của các quán dọc dường đang „tận hưởng“ hết mình những giây phút thoải mái này mà ước “Giá kiếp sau có phải… thì xin được ở đây…“. Qua rặng phi lao, một đầm sen đang mùa nở hoa toả hương trải ra trước mặt. Thế là cả hội hồ hởi ngắm hít thở „lấy được“ bởi cảnh đẹp quá. Sau khi được hai cậu bé (kiểu như bán vịt trời như trong truyện dân gian) mời thì Kim Hoàn, Thu Hoàn và Thu, Vânchèo và Hiện thả thuyền len lỏi trong đầm sen, ngắm sen nở, ngắt lá sen đội đầu, hái đài sen để nhâm nhi cái vị đăng đắng nhẫn nhẫn của những hạt sen non và để khẳng định lại một lần nữa đúng là „Sen lìa ngó ý tơ lòng còn vương“ thật. Đắc thắng, mỗi thuyền ôm một bó sen thơm ngát về làm chiến lợi phẩm. Những kẻ trên bờ còn „Cho tớ mượn để chụp ảnh“ với nữa chứ bởi cầm lòng không đậu trứơc vẻ đẹp của loài hoa còn được mệnh danh là quốc hoa này. Thời gian dừng chân bên đầm sen hơi lâu nên mọi người chỉ còn rất ít thời gian cho đồi cát mặc dù đầm sen ngay bên chân đồi cát, trông thì tưởng gần lắm nhưng cũng không hẳn như vậy. Không biết có ai còn nhớ không cảnh những đồi cát hùng vĩ trong phim „Đời cát“? Cát trắng mịn trải dài gió thổi thành những đụn khác nhau, lớp lớp, tầng tầng như những ruộng bậc thang trắng một màu trắng tinh khôi… tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ, mênh mang làm xao xuyến lòng người. Thế là chỉ có Tố Vân và Lêchen leo lên đồi một tí mà thôi. Rồi lững thững ra đến nơi xe đậu chờ là vừa thời gian cho phép. Trên đường quay về Mũi Né, xe ghé lại điểm đến thứ hai là Đồi Cát Hồng. Địa điểm này có vẻ đông người hơn, là cả khách, cả rất nhiều trẻ con hay người cho thuê dịch vụ cái mo để trượt và rất nhiều hàng rong buôn bán. Không nói không rằng, cả hội lại ập vào hàng tào phớ và bánh bột lọc mà cứ tưởng là sau chuyến ba mẹ Thuỷ Vịnh đãi ở Đông Hà là „vĩnh viễn“ thôi cơ đấy. Thế mới biết ở đời khó có gì là „mãi mãi“ cả nếu xét từ một việc cỏn con như thế này. Đến làng chài là vừa kịp để ngắm hoàng hôn. Thuyền về chật bến, chim bay về tổ, trong nắng chiều chập choạng, những con dơi loạng quoạng chao lượn trên không… Quả thật lòng mỗi người ta khó mà dửng dưng được trước cảnh sông nước khi chiều về. Thật đúng

„…Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà“

thật. Về đến Mũi Né là vừa ăn tối. Bữa tối của chuyến đi này rất tuyệt vời, toàn hải sản tươi ngon như lẩu nghêu, cá, mực tươi xào, tôm…cả thịt bê xào nữa. Chờ cho „xuôi xuôi“ cả hội lại bì bõm trong swimmingpool, để cho thác nước nó massage cho đã, chán chê lại kéo nhau ra nằm hóng mát ngoài hiên để vừa nghe sóng đập vào kè đá vừa hóng gió biển mát rượi và ánh trăng tràn trề toả sáng trên những ngọn dừa trên cao vừa ôn lại những chuyện mà nhiều khi cả một đời người ta dấu kín trong lòng.

28/3

Đêm đó trong tiếng rì rầm như kể lể muôn đời của biển Tố Vân và Thu đã ngủ quên mãi đến 1-2 giờ sáng gì đó mới vào (nếu như không bị sự ồn ào của một hội rủ nhau ra biển muộn) và đến 5 giờ Thu lại ra để ngắm bình minh vào thời khắc của một ngày mới nơi Mũi Né này.Thế rồi lục tục dậy cả và lại rủ nhau đi ăn sáng.Buffet này rất phong phú, có từ bánh xèo bánh cuốn… cho đến bánh mì quết bơ với mứt nhừ.. Kim Hoàn, Hiện và Vânchèo gọi thế nào cũng không chịu ra đi bơi. Cả hội đầu tiên ra biển nhưng sóng dữ quá đến mức Lêchen thất thần bị sóng đánh dạt ra nên lại kéo nhau vào tắm ở bể bơi, cô cháu Hoàn Vuông thì còn rủ nhau ra biển và phi ngựa ầm ầm ở bể bơi. Hiện sau khi „nghỉ ngơi“ thì đi cắt tóc và „mát xa mát gần„ gì đó mà mãi đến giờ cơm trưa cũng vẫn chưa về làm mọi người hoảng hồn phải cử Vânchèo đi tìm gọi về, tưởng theo ai mất rồi.

Trả phòng, chào tạm biệt Mũi Né, đúng 2 giờ chiều xe khởi hành hướng SG. Lần này do điều động xe cộ của Sinh Café sao đó mà cả hội được đi xe giường nằm về SG. Mọi người đều khoái trí, riêng Thu thì không vì phải leo trèo, mệt quá. Thực ra để mua được vé xe giường nằm này là không đơn giản, vì xe có giường nằm số lượng rất ít mà nhu cầu mua lại nhiều nên phải đặt trước khá lâu. Trước đây vài năm khi Tyty còn ở VN thực tập cũng phải đặt trước khá lâu cho cô chú Thuỳ Vân, Vũ để đi chơi Nha Trang. „Nước mã hồi“ bao giờ cũng nhanh hơn khi đi. Vô tình được biết Sáu cũng đang ở Mũi Né, nhưng bận đi với khách nên không thể gặp nhau được, hẹn mai. Tố Vân, Hiện và Vânchèo mê tơi chè Nam nên về chỉ kịp tắm rửa sạch sẽ mát mẻ xong lại hộc tốc lên taxi đi ăn tối để còn kịp ăn chè nữa chứ chỉ sợ rằng còn có một hôm nữa không biết có kịp ăn chè không? Thế là vào một tiệm chè có tiếng đặt chè thập cẩm, sương sa hạt lựu… Hiện không ăn được chè Thái vì có mùi sầu riêng thế là đổi cho Thu.

Đến nơi thì vừa kịp giờ, nhà hát Phú Nhuận hôm nay diễn vở „Giếng lạ“. Dung bận việc không thể đi được, Ngọc bạn Thu mời 4 vé: Lechen, Thu, cô Tường và Nguyệt. Thế là cả hội lại một lần nữa được thưởng thức kịch nói Sài Gòn. Nhìn chung kịch nói SG không có cái sâu sắc đặc trưng như kịch Bắc nhưng rất đời và rất người, diễn viên diễn rất tốt không lên gân, không khoa trương và cái điều mà kịch Bắc không làm được là tất cả những đêm diễn ở nhà hát nào cũng vậy, dù to hay nhỏ đều kín rạp. Nghĩa là có khán giả hay là kịch nói SG có được quan tâm. Vậy tại sao có nhiều người không nhìn cái mục đích chốt hậu ấy mà cứ nhân danh nghệ thuật để phỉ báng một điều mà mình không hay chưa làm được nhỉ? Tối khuya, tan vở diễn mà dư âm còn lắng đọng mãi, mọi người còn bàn tán về kịch bản cũng như diễn xuất của diễn viên cho đến trước khi đi ngủ. Nhưng dù sao cũng phải đi ngủ để mai còn đi thăm thiền viện Đồng Nai nữa chứ.

29/3

Sáng ra cả hội đi taxi sang bên chợ Trương Minh Giảng, đến Xíu ăn bánh bèo. Thu muốn giới thiệu với mọi người bánh bèo của Xíu là nơi mà Thu và gia đình đã ăn từ nhiều năm qua, nhiều thế hệ qua. Xíu là một người phụ nữ nhanh nhẹn, thông minh và đảm đang, tháo vát. Với hàng bánh bèo của mình Xíu đã nuôi cả gia đình mình. Dù vất vả bận rộn như vậy nhưng lúc nào Xíu cũng tươi cười vui vẻ tiếp đón khách nên món bánh bèo của Xíu đã ngon (bánh bèo trắng dẻo mướt mượt trong chén nóng hổi vừa lấy trong xửng ra, rồi hành mỡ xanh quết lên, rắc thêm tóp mỡ, tôm chấy hồng hồng nâu nâu với tô nước mắm pha vừa chua cay ngọt mặn với ớt bào xanh đỏ thơm nồng) lại càng ngon, quán của Xíu đã đông lại càng đông. Nhiều khách, kể cả khách nước ngoài đi xa bao lâu cũng nhớ Xíu và bánh bèo của Xíu.

Chào Xíu xong cả hội lại lên taxi sang chùa Vĩnh Nghiêm để lễ Phật và để Thu thắp hương bố mẹ bởi từ hôm về đến giờ Thu chưa hề có thời gian cho việc gia đình (hôm cả đoàn đến thăm chùa thì vào giờ nghỉ trưa nên tháp cốt đóng cửa). Cô Tường và xe thuê hẹn gặp nhau tại chùa để cả hội đi thăm thiền viện Đồng Nai. Cách Sài Gòn khoảng 6-7 chục cây số, qua Biên Hoà, Long Thành nổi tiếng với vườn trái cây là đến thiền viện Thường Chiếu. Đây không chỉ chỉ là nơi toạ lạc của mỗi thiền viện Thường Chiếu mà còn là của cả một quần thể thiền viện, ít nhất phải có đến 3-4 thiền viện liên tiếp quanh nhau chìm sâu trong những vườn cây đa, si, khế… kiểng với bao thế cây đẹp như „Trực“, „Hoành“, „Giao long“, „“Phựơng vũ“, „Phụ tử đồng khoa“ và đặc biệt ở đây thế được yêu thích nhất là „Bạt phong“ mà nhờ kỳ công chăm sóc mới có được, những kỳ hoa dị thảo được sưu tầm từ nhiều vùng miền…Bóng những mái đình hóng mát, những gác chuông, những mái chùa , những bức đại thư pháp khắc trên đá tảng… thấp thoáng trong một màu xanh an bình của cây cối . Không khí thiền viện u tịch, trang nhã, ta cứ có cảm giác như lạc vào một không gian khác, những âu lo trần thế ta đã để lại ngoài cánh cổng kia, lòng ta nhẹ nhõm và an lạc. Vì Tố Vân và Hoàn có hẹn với gia đình chứ ai cũng muốn ở lại thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiền viện này. À quên, tất cả đã kịp sà vào một hàng tào phớ làm mỗi người mấy chén rồi và có vào mua ít thuốc bóp tay chân rất tốt mà chỉ có ở đây mà thôi.

Về lại đến Sài Gòn thì Hoàn phóng xe ôm đi thăm họ hàng. Cô Tường và lái xe về ngay còn Thu, Tố Vân, Vân Chèo, Lêchen, Hiện đi cắt tóc. Art Hair là một tiệm làm tóc rất lớn có tiếng của Sài Gòn, 4 tầng lầu, nghe nói nhân viên cả vài trăm ngưòi. Mà quả thực đến đó khách hàng thấy mình được chăm sóc rất chu đáo tận tình.Thợ giỏi và chiều khách. May hôm nay không phải chờ đợi lâu. Xong xuôi ra về ai cũng thấy hài lòng. Nhất là Hiện và Lê có hai „quả“ đầu cực đẹp. Đã đành „đầu“ Thu (cả ngoài lẫn trong) thì luôn luôn và ở đâu cũng là mối bận tâm của nhiều người nhưng ở đây lại càng được những người có chuyên môn hẹp chuyên ngành đầu tóc này quan tâm nhiều hơn nữa.

Sau đó Hiện, Tố Vân đi thăm họ hàng còn Lê, Thu, Vân Chèo đến thăm má Nga và chị Lan. Má Nga ốm từ mấy năm nay nhưng hôm rồi đi đón đoàn bác cứ bắt chị Lan đưa ra Tân Sơn Nhất để đón mọi người. Thật cảm động. Nhìn bác mới biết quy luật của thời gian khắc nghiệt thật. Mới hôm nào bác trẻ khoẻ đẹp rất phúc hậu sang chơi thăm VINAPHUNU ăn bánh tôm Hà Nội với bọn con. Có mấy năm thôi… Chúng con mong bác chóng mạnh lại bác nhé để bác lại sang chơi thăm Berlin với con cháu và bọn con nhé. Lê không ăn nhưng Thu và Vân Chèo đã ghé hẻm đầu chợ Thái Bình ăn bún bò giò heo vì tự nhiên thấy đói. Mặc dù Nga đang chờ ở nhà với món nem nướng cuốn. Chị Lan sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng món rau sống đã xuống cho cháu ngoại ăn. Nghỉ hưu, chị Lan bây giờ đã „Rửa tay gác kiếm“ ở nhà chăm má và cháu ngoại sau một thời gian dài hoạt động sôi nổi. Trong khi đó thì Thu tranh thủ sơn móng tay. Cháu Trung có angebot là nhuộm tóc vì thấy đầu bác Thu đã nhuôm nhoem rồi nhưng ít nhất phải tiếng rưỡi mà bác Thu và các cô lại có hẹn tiếp rồi nên đành cám ơn cháu Trung, hẹn lần khác sẽ được thưởng thức tài nghệ cháu Trung nhé. Được vài cuốn thì Hoàn gọi điện là sẽ đến ngay.

Trong khi đó thì do Hiện và Tố Vân không khớp nhau trong việc giữ chía khoá nhà mà Hiện phải chờ ngoài đường mất cả tiếng đồng hồ, Thu điện thoại đi lại mãi thì Dung mới về và Hiện mệt lả người (vì đau bụng) mới vào được nhà. Sau bữa cuốn nem nướng trên sân thượng nhà Nga mà tiếc là chỉ có 5 người (mặc dù Nga chuẩn bị rất nhiều cho cả hội) thì Thu, Hoàn, Lê và Vânchèo lại phải hộc tốc phóng taxi xuống nhà cậu Thu để ăn bữa cơm chay với gia đình. (Đáng lẽ nếu không vì việc cả hội xem kịch tối qua sau khi đi Mũi Né về thì Thu đã được găp toàn bộ các em và cháu trong gia đình vì theo nếp nhà là mỗi khi có người đi xa về cả nhà lại họp mặt tại nhà cậu Trung ở trong Nam hoặc ở nhà cô Tín cậu Tưởng nếu ở Hà Nội).Đây là chuyến đi có tính chất công tác và đoàn lại đông nên hầu như ai cũng đều kìm nén bớt những yêu cầu cá nhân để sao cho chuyến đi thật trọn vẹn và tốt đẹp. Thế là chỉ có Hoàn, Lêchen và Vânchèo xuống thăm nhà cậu Thu, ăn bữa cơm nhạt với cô cậu Thu và các em, các cháu. Chỉ có ít thời gian thôi nhưng cả nhà rất mừng và như mọi gia đình của các thành viên khác trong đoàn đều rất thông cảm cho chương trình kín mít của đoàn. Rồi Ngọc bạn Thu đến để cùng nhau đi phòng trà.

Ai nói rằng biết Sài Gòn mà chưa biết phòng trà Sài Gòn thì có nghĩa là đã biết rất thiếu về Sài Gòn, hay nói cụ thể hơn là một diện mạo của Sài Gòn về đêm. Ở phòng trà ta được nghe live music và nhâm nhi ly cà phê hoặc rum trong một góc nào đó mà ta yêu thích quen thuộc, có thể một mình hay với tri kỷ, bạn bè. Tuỳ tâm trạng, tuỳ theo gout, tuỳ theo đối tượng… mà ta chọn phòng trà nào để đến. Đêm nay có thể là „Sỏi đá“, nhưng mai có thể lại đã là „M và tôi“ hay „Trống đồng“… „Hà Nội và tôi“ là một điểm hẹn của những người Hà Nội nói riêng và người Bắc nói chung sống ở Sài Gòn. Ông chủ quán là một người yêu thích ca hát nên nghe đâu vốn là một thuỷ thủ tàu viễn dương của thập niên 80, giải nghệ ông mở phòng trà này để được hát mỗi đêm. Với tiếng đàn ghita tỉa khá điêu luyện, giọng hát cũng là lạ nghĩa là người ta nghe xong thì nhớ, và đặc biệt là khoẻ bởi hình như đêm nào ông cũng hát và hát nhiều theo yêu cầu, ông đã làm cho „Hà Nội và tôi“ có chỗ đứng trong lòng những người Hà Nội xa Hà Nội. Đêm nay, trong một góc tối, Vânchèo đã thả hồn mình trong những giọt lệ „Mơ về nơi xa lắm“.Và có lẽ chỉ có khi xa Hà Nội, người Hà Nội mới cảm nhận được hết tình yêu của họ với Hà Nội mà thôi. Có Lêchen, Thu, Hoàn, Ngọc, Kim Hoàn bạn Thu, Vânchèo, Tố Vân tìm đường đến chậm một tí, rồi cô Tường, Nguyệt cháu Đông, Sáu với vợ, Kim gọi điện mãi, tìm đường loanh quanh loéo quéo mãi rồi cũng tới nơi. Rất vui vì dù không gặp lại cả đoàn nhưng mọi người gặp lại nhau ôn lại những ngày bên nhau vừa qua mà đã rất xa. Thu đãi mọi người buổi tối hôm nay. Chia tay nhau khi Sài Gòn đã vào khuya.

30/3

Sáng mọi người dậy sửa soạn, tắm rửa mát mẻ xong là lên taxi sang bên Phú Nhuận ăn mì Quảng. Dung sau khi chở Vuông đi học là chờ ở đó để cùng ăn sáng. Là một món ăn đặc trưng của vùng Quảng Nam Đà Nẵng, cái vị ngọt ngào thấm thía của tô mì Quảng có những sợi mì vàng vàng, nâu đỏ của gạo lức, của miếng thịt chân giò thái mỏng, của miếng chả lụa Trung thơm mùi tỏi, của con tôm đậm đà trong nước sốt sánh đỏ, rồi bánh tráng bẻ với vài cọng rau bạc hà xanh mướt, vài lát ớt, lát chanh…  đã đưa vào hồn người xa xứ nỗi nhớ khôn nguôi mỗi khi nhớ về quê hương. „Thú quê thuần vược bén mùi“ là vậy. Nhiều khi tình yêu xứ sở nó bắt nguồn từ những việc cỏn con, từ góc phố hàng cây trước nhà ta, từ món ăn quen thuộc mà ta đã được ăn ngày thơ ấu với cha mẹ, bạn bè ta, từ một mùi thơm quen thuộc của rơm rạ hay khói lam chiều…

Cà phê xong Dung chở Hiện về vì đau bụng quá, còn cả hội lại đến Lâm Nguyên về vụ áo dài. Tất nhiên là có mấy ngày gấp như vậy không thể nào xong được cả hai chục cái áo dài cho cả đoàn được rồi. Chỉ có Lê, Vânchèo và Tố Vân là xong thôi. Áo may cho Tố Vân đẹp và khéo vô cùng. Vừa khít khịt và rất ôm. Là người có nghề mà Tố Vân phải khen cơ mà.Và áo dài may ở Sài Gòn rõ ràng là đẹp hơn Hà Nội nhiều. Đó là một sự thật hiển nhiên mà ai cũng công nhận. Vì vậy bao giờ về Thu cũng may tặng bạn bè rất nhiều, có lần cả 15 cái, lần này thì „có“ chục cái thôi bởi họ ít có cơ hội vào Nam và không biết chỗ may. Là một tiệm nhỏ thôi nhưng vì Lâm Nguyên may rất đẹp mà giá cả lại rất phải chăng nên cũng là địa chỉ quen thuộc của nhiều nghệ sỹ mà Ngọc đã giới thiệu cho Thu từ lâu. Hai chị em cô chủ rất dễ thương và đàng hoàng, nghĩa là ví dụ có gì ở áo mà mình chưa được ưng ý thì dù là đã ở nước ngoài rồi, cứ gọi điện thoại về và nhờ người mang đến là sẽ được hai cô làm như ý. Như vậy là cuối tháng tư này mới lấy được, nhưng không sao vì Thu lại có người quen sang và sẽ mang giúp. Còn lấy áo và liên hệ thì đã có Dung hoặc Ngọc bạn Thu giúp. Đó là những người bạn chân tình và là những thành viên danh dự của VINAPHUNU từ nhiều năm qua bởi những đóng góp không thể đong đếm được trong nhiều việc, từ nhỏ đến lớn, từ trực tiếp đến gián tiếp, từ vật chất đến tinh thần…

Sau đó cả hội đến thăm anh Khánh bạn Thu. Tất cả những ai ở Karl-Marx-Stadt xưa đều không thể không biết anh Khánh bởi anh đã từng là „Sứ vùng“ và là một đội trưởng rất „chịu chơi“. Thời gian sau khi thống nhất nước Đức thì anh lại là một cán bộ của Sở XH Chemnitz, dẫn đầu và đứng đầu rất nhiều các hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của người Việt. Bây giờ anh về làm giám đốc điều hành một hãng lớn của Đức tại VN. Có điều kiện đi lại nhiều, anh thường xuyên giúp CLB mỗi khi có thể, như là mang giúp hàng chục ký sách sang cho thư vịện CLB (mấy hôm nữa anh sang sẽ cầm 2 chục kýlô sách cho CLB). Còn Phi Anh (hiền thê của anh) thì năm ngoái về VN đã mang sang mấy chục cái mũ để tặng tổ chức Kinderhilfe Hyvong bán gây quỹ giúp trẻ em VN. Như Thu thường xuyên nói, quả tình nếu không có được những tấm lòng và sự giúp đỡ chân tình của gia đình, bè bạn ở SG cũng như HN, ở VN cũng như ở Đức, của các thành viên CLB kẻ 5 ký người 10 ký, cứ từng ít một như con kiến tha lâu đầy tổ vậy thì làm sao VINAPHUNU có được một thư viện hoành tráng với hơn 5000 đầu sách như vậy.

Ngồi chơi thăm anh Khánh một tí rồi thì cả hội lại lên taxi về thăm Xuân Dung bạn Thu là bác sỹ thẩm mỹ có mỹ viện ở cả SG và HN. Ai hay xem VTV4 hẳn đều biết đến bác sỹ Xuân Dung vì được quảng cáo rất nhiều, hay là ngay ở phi trường Tân Sơn Nhất cũng có biển quảng cáo to đùng ngay chính lối vào. Xuân Dung cách đây 4 năm đã từng sang Berlin chơi và đã có buổi tư vấn thẩm mỹ rất thú vị cho VINAPHUNU bởi nhu cầu làm đẹp cho nhan sắc của phụ nữ luôn luôn là „nóng hổi“, nhất là khi đã đến cái tuổi bắt đầu „ngài ngại lo lo“ mà kinh tế lại cũng tàm tạm. Mạng lưới họ hàng và bạn bè quen biết rộng lớn của Thu, từ các giáo sư, bác sỹ chuyên ngành đến công chức các ngành như hải quan, công an, rồi cán bộ khoa học, luật sư, nhà báo, văn nghệ sỹ, nhân viên các hãng hàng không… ở VN cũng như ở Đức đã giúp ích rất nhiều cho sự thành công của VINAPHUNU trong gần hai chục năm qua. Ví dụ như các bài báo Thu viết thì được chính chú và cậu ruột là những giáo sư văn chương góp ý sửa chữa, ở SG thì Dung với nghiệp vụ thư viện lâu năm của mình đi chọn mua sách và với công việc cùng mối quan hệ trong ngành hải quan sân bay để gửi quá ký trót lọt, Quang của Lufthansa đã nhiều lần gửi giúp hàng trăm kýlô sách, ở HN thì có chú lo cho vụ sách truyện những năm ông còn trẻ khoẻ (và cho đến tận bây giờ hàng năm ông vẫn lo cho việc đặt thiệp và lịch chúc Tết cho CLB), rồi đến bạn bè thân thiết như Thu Hương giám đốc thư viện viện Văn thường xuyên đi mua sách để Thắng đóng gói, và mang đi gửi quá ký giúp vì quen biết nhiều, như cách đây hai năm thì cô là bác sỹ Vân Như chuyên khoa sản phụ trong một chuyến sang thăm gia đình từ Budapest qua,Thu đã mời đến nói chuyện với chị em CLB…Nhiều lắm, những ví dụ như vậy không thể kể hết được chỉ bởi đơn thuần là có quá nhiều và thường xuyên nên không gọi tên ngay ra được nhưng những tấm lòng ấy luôn được ghi nhận trong mỗi sự thành công của VINAPHUNU.

Trong lúc ngồi chơi với Xuân Dung thì Vânchèo tranh thủ hoàn thành được nỗi niềm „đau đáu“ mong chờ suốt cả chuyến đi là xăm mi mắt dưới cho khỏi lem khi vẽ. Dũng cảm lắm. Xăm không cần thuốc tê vì thấy bảo sợ bị sưng nếu tiêm thuốc. Thế mới biết đàn bà không hề là „giống yếu“ bởi khi cần hy sinh cho nhan sắc là vô cùng dũng cảm, còn cho những vấn đề khác là không đảm bảo nha. Xuân Dung cho lái xe đưa về để cả hội còn kịp ăn trưa ở nhà vì hôm nay Dung nghỉ phép để ở nhà lo tiễn cả hội đi. Sau khi ăn sáng xong thì Dung về lo đi chợ,cơm trưa cho cả nhà. Bữa cơm trưa ngon quá, rau muống luộc dầm sấu, cà, dưa, hai đĩa tú ụ thịt quay, bánh hỏi. Hoàn còn đòi chục quả trứng vịt lộn nữa chứ. Thế là bao nhiêu thịt, tôm, rau sống cô Tường mang lên cho cả hội (lúc chưa ai về có mỗi Hiện đau bụng nằm nhà) đành phải đưa cô mang về chứ còn ai ở nhà để mà ăn bây giờ? Vậy mà khi vừa sang đến nơi là cả hội đã tiếc hùi hụi rồi, người nọ bảo người kia là biết thế ăn thêm cái này cái kia. Có lẽ cả hội chỉ có mỗi Lê là không thấy „ham„ ăn uống thôi. Thế mới là niềm tự hào của cả đoàn khi mặc áo bơi xuống biển chứ Lêchen nhỉ. Rồi cả 4-5 quả sakê cô Tường trẩy ở cây nhà cũng vì nặng quá phải bỏ lại. Toàn bộ tâm sức của cả đoàn giờ chỉ dồn vào việc sao cho hôm nay trót lọt được 50 kýlô sách và hàng triển lãm của CLB mà thôi. Thu chỉ ráng cầm tay theo người được một quả sakê để sang biếu thầy Thích Từ Nhơn. Thu gọi điện thoại lần nữa cho Y. và được biết trưởng ĐD của Qatar Airways đã đồng ý cho cả đoàn 30ký quá cước, chỉ việc ra liên hệ thế này thế này là xong. Mừng quá. Vì như vậy còn lại 2 chục ký thì đã có anh Khánh mấy hôm nữa sang, không lo. Ngọc bạn Thu đến muộn, ăn xong thì giúp Tố Vân đóng đồ ở tầng dưới. Ai đóng đồ xong thì tranh thủ ngả lưng vài tiếng vì còn cả chặng bay dài tối nay. Và cũng còn là để lấy tinh thần chờ đón vụ cân kẹo nữa vì chưa qua là vẫn còn lo dù đã có lời hứa đảm bảo như vậy. Nói vậy mà rồi ai cũng lo vụ cân ký có quá không nên chỉ nằm được một lúc lại dậy gói ghém soạn sửa.

Cô Tường gọi điện nói đi từ 5giờ chiều nhưng vì nhà Dung rất gần sân bay nên gần 6 giờ cả hội mới xuất phát. Bận rộn như vậy mà cả cô Tường, Rạng Đông và Mai đều đi tiễn. Hôm tiễn cả hội Đức về cũng vậy, còn đông hơn vì còn có cả chú Long và các cháu con Đông Mai nữa. Bọn cháu cảm động lắm cô Tường ạ, các bạn Đức cũng vậy. Nói nhiều quá thì nghe có vẻ khách sáo nhưng quả thực bọn cháu tất cả đoàn đều biết rằng nếu không có sự giúp sức tổ chức hết lòng, chu đáo và vô tư của cô trong chuyến đi này thì chắc chắn bọn cháu khó lòng có được một chuyến đi tuyệt vời như vậy cô ạ. Với một số tiền tối thiểu mà đi được nhiều tối đa và chất lượng của các tour, các nơi nghỉ, bữa ăn là tối ưu. VINAPHUNU tồn tại từ gần 2 chục năm qua với nhiều thành công như vậy chính là nhờ những tấm lòng như cô đó cô Tường ạ. Cô luôn là một trong những thành viên danh dự được nhắc đến nhiều nhất của CLB chúng cháu. Dung mặc uniform của Hải quan, Quang đeo biển nhân viên Lufthansa và cô Tường vào tận trong vì theo quy định là người không có vé bay thì không được vào. Thu vội vàng theo chỉ dẫn đến gặp cô T. phụ trách việc cân hàng và trình bày chuyện Y. đã làm việc trước. Nga, Hưởng, Thu, Lê, Vân chèo, Tố Vân, Hiện và Hoàn cân chung ở một quầy. Quang đứng tại quầy để „cửu vạn“ đống hàng hoá của cả đoàn. Tất cả xuôn xẻ, các em cân hàng và làm thủ tục vé đều rất dễ thương nhã nhặn. Cân ký của cả nhóm bù qua sớt lại là vừa đủ bởi mỗi người có dư vài ký cũng phải bù vào sách, tài liệu, ảnh… của CLB còn rất nhiều nữa và đã phân ra nhét bớt vào các valy rồi nên 30 ký lô cho thêm là dành cho 3 thùng hàng triển lãm (của 2011 và 2012 mà Thu đã phải lo từ bây giờ) 20 kýlô và một thùng sách 10 ký. Vấn đề ở đây là ngoài 3 chục ký đã gửi được thì vẫn còn 2 thùng sách 2 chục kýlô. Nhưng không lo vì vẫn còn anh Khánh hứa mang giúp 2 chục ký sắp tới anh sang. Nhưng vẫn mang ra hết phòng khi „nhỡ được thì sao“. Và quả thực cô T. còn cho thêm 10 ký gửi theo kiểu „liên kết“ nghĩa là cứ chịu khó cầm tay, vào đến phòng kính họ lại cho gửi, sau khi dặn rằng chị không được mang nốt thùng này vào mà phải mang về đấy nhé. Cô Tường cứ bắt Thu mang vào nhưng Thu không thể làm được như vậy vì lời dặn của cô T. và cảm thấy mình làm vậy là sợ quá đáng quá vì cô ấy đã cho mình cả 40 ký rồi còn gì. Thế mà rồi vào đến trong rồi mới biết là cô Tường đã nói Hưởng mang vào được và cũng gửi theo kiểu liên kết. Như vậy nghĩa là cả 5 chục kýlô hàng của CLB hôm nay mang vào được hết cả mà vẫn chưa cần vận động đến người quen của cô Tường đang đứng „dự phòng“ và phương pháp rất hữu hiệu của Đông hôm nọ đã thắng lợi được 2 chục ký lô sách. Như vậy, chuyến này CLB có 3 chục ký sách ở HN mà chị Vinh, Hiên và Vân chèo sẽ mang đi, 5 chục ký sách của hai chuyến, hôm nay và hôm 22/3, 2chục ký sẽ mua thêm để gửi anh Khánh, tổng cộng 100 kýlô sách và 20 ký hàng triển lãm của 2011 và 2012. Sau đó Hưởng tuyên bố là nhờ không „dây“ với Thu mới được việc vì người ngợm đầu tóc Thu dễ bị gây chú ý. Cả hội thì bảo trông Thu như đi buôn, gớm quá. Tóc tai lởm chởm (như đang cắt dở, Thu thường xuyên bị hỏi là „Em, chị, cô hay bác đang cắt tóc đấy ạ?“ mỗi khi có khách đến thăm nhà. Thậm chí có hôm Thanh, em dâu Oanh, hỏi Thu rất tự nhiên giữa liên hoan lễ Giáng sinh ở CLB làm mọi người cười ầm cả lên, còn Thanh thì ngơ ngác mãi không hiểu vì sao. Tất nhiên đó là lần đầu tiên Thanh ra CLB chơi. Và còn có lần cách đây mấy  năm, Thu về phép, ở phi trường TSN, có cô CA cửa khẩu không hiểu nghĩ sao hay là cô ta cho rằng mình có quyền nói như vậy nhỉ nên sau khi nghiên cứu hộ chiếu của Thu thì thấy cô buông một câu lững lờ chết người „Chị có cái đầu ấn tượng nhỉ!“. Hiểu ý cô là muốn đề cập đến vấn đề tóc của Thu thôi nên Thu trả lời rằng „Dạ vâng, cái bên trong đầu còn ấn tượng hơn nhiều chị  ạ!“  ) lại còn luôm nhuôm lốm đốm bạc, quần người Dao Đỏ, túi thực chất là cái bị của người Giarai, Ede gì đó vì mua ở Buôn Mê Thuột, vòng nhẫn xủng xoảng đầy mình, tất ta tất tưởi (hình như khi đến Doha ai đó có làm cho Thu một bức chân dung để làm tư liệu đó. Tấm này chắc chắn sẽ gửi lên mạng. Mọi người nhớ đón xem). Việc cân ký đã thở phào nhẹ nhõm thì lại Hải quan ý kiến lằng nhằng. Chẳng có gì mà những cái valy cái nào cái nấy đều trương phình ra rồi, mở ra đóng lại làm sao được? Thế là Dung phải ra „mỹ nhân kế“ các đồng nghiệp mới „thông cảm“. Ôm hôn cô Tường lần nữa, cám ơn cô Tường lần nữa về tất cả những gì trong suốt tháng qua cô đã làm cho đoàn và khẳng định một lần nữa yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công của chuyến đi này thuộc về cô. Đi được vào mấy bước, thấy đông quá sợ muộn , Dung nói người quen mở thêm băng chuyền mới cho đoàn mình vào thì bất đồ có một anh chàng của hãng nằng nặc đòi cái thùng sách đã dán mác gửi liên kết kia phải trả lại không thì anh ta báo cho cả đoàn không được đi. Giải thích thế nào cũng không chịu, kể cả đồng nghiệp là nhân viên của hãng xuống giải thích cũng cứ khăng khăng một mực như vậy. Sau lại chuyển sang lý do là đoàn xách tay tùm lum quá. Thế là mấy túi phải cho vào một túi, áo mặc vào người dù nóng „chết cha chết mẹ“ không phải chỉ vì thời tiết mà còn vì sự vụ cân kẹo này. Mặt mũi ai nấy đều (giả vờ) nhẹ nhõm thảnh thơi khi qua cửa kiểm tra ra ý là đồ xách tay nhẹ nhàng ấy mà, nhưng thực ra thì trĩu cả vai và tay, cũng may là họ cho gửi „liên kết“ ngay tại lối vào chứ không thì nguy to. Bởi riêng cái bị của Thu phải ít nhất cả chục ký: giấy tờ làm việc, ảnh chuyến đi, báo tư liệu và 2 quả xoài, 1 quả sakê là quả tươi duy nhất của cả chuyến đi để biếu thầy Thích Từ Nhơn và Hoa với anh Hồ làm quà mà thôi. Nhưng tóm lại rồi cũng qua hết. Mọi người chia tay Dung và Vuông để ra máy bay vì cũng đã tương đối muộn. Nghĩ thấy hãi hùng và lại thương Dung về dọn bãi chiến trường ở nhà mà cả hội bỏ lại khi đi. Nói vậy chứ chắc vắng hoe, hai mẹ con buồn lắm đây. Ngồi trên máy bay yên vị rồi mới thấm mệt của cả chuyến hành trình và của mấy giờ „Lao tâm khổ tứ“ vừa qua về việc quá ký lô. Mà xét cho cùng rồi lần nào cũng vậy mặc dù lần nào cũng nhủ lòng rằng „cạch đến già“ chẳng tội gì… thế mà rồi lần nào cũng như lần nào. Nghĩ mình cứ chịu khó cố xách nặng một tí thôi là có quà cho người này, người kia, thư viện có thêm được ít sách để mọi người đọc, CLB có thêm được lạng vối ký trà để uống nước… Mà lạ lùng thay tâm lý này có ở hầu hết người Việt mình, liệu đây có phải là tâm lý của một dân tộc mà đức hy sinh luôn được là một chuẩn mực trong việc đánh giá một con người hay đây là một „Thú đau thương“ nhỉ? Lần nào cũng như lần nào, lo từ khi chuẩn bị về rồi chuẩn bị đi, lục lọi trong mọi ngõ ngách của trí nhớ để tìm các mối quan hệ khả dĩ có thể nhờ vả được…  Hạnh phúc vô biên khi qua trót lọt được số hàng quá ký. Và thế là ta

„…Lòng khoẻ nhẹ anh dân quê sung sướng

Ngả mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành…“.

31/3

Hầu như ai cũng ngủ một mạch đến tận Doha mới thức dậy để chuyển máy bay. Thu và Hiện ngủ đến mức chẳng ăn uống gì và chắc tiếp viên thấy vậy (vì đang ngủ hoặc giả vì hình thức của cả hai đứa thấy không đáng lo ngại) nên cũng chẳng đánh thức mà để cho ngủ, không gọi. 7 giờ sáng máy bay hạ cánh rất đúng giờ. Đủ hết hàng hoá. Và những thùng hàng CLB lại phải phân ra kẻo sợ Hải quan Đức thấy „ngứa mắt“ hỏi thì rách việc, mỗi xe hàng một thùng. Ấy vậy mà chẳng ai bị hỏi, trừ Thu. Chắc cũng lại tại cái bộ dạng kỳ quái, nhưng sau khi nghe Thu trả lời thì mời đi ngay và chúc bà một ngày đẹp. Thu cũng chúc lại như vậy. Udo đi đón Tố Vân, Úlì và Tímì đi đón Vânchèo, anh Bình đón Lê, Tùng mang hoa đón Hoàn làm Hoàn cảm động không nói được nên lời mà cứ thấy suốt dọc đường lẩm bẩm hát “Và   em biết một điều thật giản dị, càng xa anh em càng thấy yêu anh“, Sơn không đón Nga mà lại đón Hưởng vì Thu ra thì đã thấy cặp Sơn Hưởng biến mất và Đông đón Thu, Nga về luôn.

Như vậy chỉ còn Đức mùng 2/4 sang (và Thắng bạn Thu đã xin cho Đức được thêm 10 ký), Hiên mùng 5/4 sang (Ngọc và hai chị em Hương Vân không rõ lịch bay) là chuyến đi về nguyên tắc đã kết thúc tốt đẹp (nếu không có sự cố Hiện mất tiền thì niềm vui trọn vẹn hoàn toàn).

Berlin đã hoàn toàn Xuân. Cây cối đã nảy chồi đâm lộc. Hoa lớp còn hé nụ, lớp đã nở tung khoe sắc trắng tím hồng vàng khắp nơi, khác hẳn quang cảnh ảm đạm thê lương tuyết phủ trắng xoá mới một tháng trứơc đây khi đoàn rời Berlin. Ai cũng vui mừng vì được trở về nhà sau cả tháng trời ngao du sơn thuỷ, được gặp lại người thân, gặp lại con vật yêu quý của mình, chui vào góc giường quen thuộc, ngồi trên cái ghế quen thuộc và để nhâm nhi một ly cà phê quen thuộc mỗi sáng, nghe một bản nhạc quen thuộc mỗi tối… Có đi xa ta mới thấy được hết tình yêu của mình với những người và vật mà vì quá quen thuộc ta thậm chí có khi đã thấy trở nên nhàm chán. Đọc đến đây chắc nhiều ông chủ gia đình chuẩn bị gật gù đây, cứ bảo con mẹ này thế nào chứ biết điều đấy chứ. Nói thế nào ấy chứ! Nhưng xin mời quý vị đọc tiếp câu kết nhé và „hết sức bình tĩnh“. Bởi vậy nên ta phải thường xuyên đi xa để thấy được hết giá trị của những lúc về gần, đúng không nào các bạn?

Kết thúc chuyến đi mà chắc chắn dư âm của nó sẽ còn vang vọng mãi, hy vọng tất cả chúng ta rồi đây sẽ mang những kỷ niệm đẹp này vào sâu trong ký ức, để rồi mỗi khi lòng buồn ta sẽ có nó như là một người bạn tâm tình an ủi, hay để một mai khi già ta có thể tự hào kể lại cho con cháu chúng ta nghe rằng con, cháu biết không, chỗ này, chỗ này mẹ, bà với các cô các bác các bà đã từng đến hay đã từng đi qua, đã từng bập bềnh như đu trên lưng voi khi qua sông Sêrêpốc xiết như thế nào, đã từng hưởng cái thú vị của đêm ngủ trên vịnh Hạ Long giữa trời nước mênh mang ra sao, rồi một mình xe bus chạy trong đêm giữa một trời đầy sao, đã từng bâng khuâng trời mây đứng ở Hàm Rồng – Sapa mà ngắm nhìn Fanxipan – đỉnh núi cao nhất VN- thấp thoáng trong sương mù lãng đãng, đã từng đi xuồng len lỏi giữa những vòm lá dừa nước ken kín nắng không qua lọt của kênh rạch chằng chịt rễ cây tràm cây đước nơi đồng bằng sông Cửu Long, đã từng ngắm mặt trời lên trên những tháp cổ lở lói rêu phong ở thánh địa Mỹ Sơn, lòng bùi ngùi cho sự hưng vong của cả một đế chế hùng mạnh mà chiêm nghiệm cái lẽ vô thường của cuộc đời.. và tuyệt vời nhất là đã từng được gặp, được làm quen, được sẻ chia với biết bao con người đáng mến, đáng yêu, đáng nhớ… dù là chỉ một lần trong đời rồi mãi mãi chia tay.,.

Hoài Thu Berlin

4/2010

Advertisements